TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn hổ mang xiêm

Tên tiếng Anh: Siamese spitting cobra
Tên Latin: Naja siamensis
Đồng danh: Naja tripudians Nootpand 1971
Đồng danh: Naja oxiana Nootpand 1971
Đồng danh: Naja sputatrix atra Lingenhole & Trutnau 1989
Đồng danh: Naja isanensis Nutaphand 1986
Tên khác: Rắn hổ mang phì
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN HỔ MANG XIÊM

Naja siamensis Laurenti 1768
Naja tripudians Nootpand 1971
Naja oxiana Nootpand 1971
Naja isanensis Nutaphand 1986
Naja sputatrix atra Lingenhole & Trutnau 1989
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn độc có kích trung bình, chiều dài trung bình dài 0,9 đến 1,2 m và có thể tối đa 2 m. Có 25 – 31 vảy quanh mang bành. 19 – 21 hàng vảy giữa thân. 153 – 174 vảy bụng. 45 – 54 vảy dưới đuôi, phân chia, các cặp đáy đôi khi không phân chia. Kích thước trung bình, thân mảnh hơn so với các loài Naja sp. khác. Màu lưng có thể thay đổi từ màu xám sang màu nâu đen, có đốm và sọc trắng. Hoa văn trắng cũng có thể thấy ở nhiều cá thể. Vành khuyên trên mang có hình mắt kính, không đều hoặc đứt nét, đặc biệt ở cá thể trưởng thành. Chiều dài tổng từ 0.9 – 1.2 m, có đôi khi đạt tới 1.6 m. Đây là loài rắn phun nọc độc với quảng đường bắn hơn 1 m, khoảng cách ngắn nhất trong tất cả các loài rắn có cơ chế phun độc. Khoảng cách phun độc có thể đạt tới 2 m nếu ở khoảng trống rộng (Although Wüster 1991). Những cá thể sống ở khu vực nhiều nắng, phân lưng có màu vàng lục. Khi gặp kẻ thù chúng thường phát ra tiếng kêu phì phì như mèo nên dân gian gọi là “Rắn hổ mèo”.
Naja siamensis khác các loài cùng Giống Naja bởi những đặc điểm sau:
Hoa văn tương phản đen trắng so với không có hoa văn màu ở Naja kaouthia và Naja atra
Không có vệt mang bành (ngoại trừ những đốm đen bên phải mang bành) so với thường xuất hiện ở Naja kaouthia và Naja atra. Đây là loài hoạt động kiếm ăn cả ngày lẫn đêm. Vào ban ngày, khi bị đe doạ, rắn sẽ trốn vào hang gần nhất. Tuy nhiên vào ban đêm, khi bị đe doạ, rắn sẽ dựng đứng lên, phùng mang, quan sát kẻ thù và phun nọc độc, nọc độc bắn trúng mắt gây đau rát và mù tạm thời. Nếu rắn không phun nọc, chúng sẽ tấn công. Khi cắn, chúng sẽ nghiến giữ chặt răng, bơm nọc độc vào cơ thể kẻ thù tự nhiên.
Sinh học, sinh thái:
Rắn hổ mèo sống chủ yếu ở các vùng đất thấp, đất ngập nước. Hoạt động về ban đêm, ban ngày trú trong hang mối hoặc hang chuột nhiều trường hợp rất gần với nơi ở của con người. Rắn trưởng thành ăn chuột, cóc, rắn… rắn non ăn ếch nhái, thú gặm nhấm, thú ăn thịt nhỏ. Nhưng thức ăn chủ yếu là những loài lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Rắn giao phối vào tháng 5 và đẻ trứng vào tháng 6, đẻ 10 – 20 trứng, kích thước 59 – 62 / 29 – 29mm và có hiện tượng con các canh giữ trứng. Trứng nở vào tháng 8. Con non mới nở dài 200 – 350mm và có khả năng bạnh cổ. Con non mới nở dài 280 – 350mm. Con non mới nở đã có thể bành cổ hung dữ. Đây là loài rắn có nọc độc thần kinh, nọc độc gây nguy hiểm chết người. Khi bị rắn cắn, nạn nhân thường có biểu hiện đau, sưng nề, liệt cơ, khó thở. Mờ mắt, sụp mí mắt và buồn ngủ do chất độc của nọc độc tác động vào hệ thần kinh trung ương.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp ở các tỉnh phía Nam Việt Nam gồm Kontum (Kon Plông), Gia Lai (Pleiku), Tây Ninh, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau. Số liệu ghi nhận ở TP HCM cho thấy các nạn nhân bị loài rắn này cắn chỉ tập trung tại một số tỉnh như Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau.
Nước ngoài: Thái Lan, Cambodia, Lào.
Giá trị:
Là loài có giá trị khoa học. Rắn hổ mang là loài rắn độc cắn chết người. Tuy nhiên nọc độc của chúng cũng được dùng làm thuốc chữa đau các khớp xương, tê thấp, còn dùng làm thuốc tê.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh bị tác động nhưng do bị săn bắt cạn kiệt ở nhiều nơi để làm dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng hơn 30% trong vòng 20 năm trở lại đây, nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: VU A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một số cơ sở đã nhân nuôi sinh sản thành công loài này để phục vụ mục đích thương mại. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống và quần thể của loài..

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae