TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quang Trung

Rắn hổ mang một mắt kính

Tên tiếng Anh: Monocled cobra
Tên Latin: Naja kaouthia
Đồng danh: Coluber naja Linnaeus, 1758
Đồng danh: Naja larvata Cantor, 1839
Đồng danh: Naja tripudians Merrem, 1920
Đồng danh: Coluber naja Linnaeus, 1758
Tên khác: Rắn hổ một kính
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN HỔ MANG MỘT MẮT KÍNH

Naja kaouthia Lesson, 1831
Coluber naja Linnaeus, 1758
Naja larvata Cantor, 1839
Naja tripudians Merrem, 1920
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Tổng chiều dài 937 – 1712 mm. Dài đuôi 137 – 225 mm. Vảy thân mượt. Các hàng vảy ở thân trước 22 – 29 hàng, giữa thân 19 – 28 hàng, thân sau 13 – 20 hàng. Vảy bụng 179 – 199. Vảy dưới đuôi 46 – 57. Có 1 vảy nhỏ giữa các tấm vảy cằm phía sau. Nanh độc cứng và ngắn, không tới vảy môi trên thứ ba. Không có cơ chế phun nọc. Lỗ truyền độc tương đối lớn và thon dài. Lưng màu nâu. Con non màu nâu ô lưu, nâu vàng hoặc đậm hơn. Mặt lưng của giữa và sau thân không có vằn ngang hoặc có vằn ngang đều hoặc các cặp vằn ngang màu sáng hoặc đường thêu dày. Họng nhạt không có đốm thâm. Mặt bụng bên của họng có đốm rõ, thường theo sau bởi vết thâm lớn. vết thâm đôi khi màu nâu sáng. Hoa văn trên mang bành thường có màu nâu sáng hình khuyên hoặc tròn trắng, thường bên trong tâm màu đậm và có hai đốm bên, một số trường hợp không có hoa văn mang bành.
Rắn hổ mang một mắt kính – Naja kaouthia khác các loài cùng Giống Naja bởi những đặc điểm sau:
Khác với loài Naja fixi bởi vằn ngang đơn, đều và hẹp xuất hiện ở giữa và phần sau của lưng và mặt lưng của đuôi ở cả con non lẫn trưởng thành, màu nâu da bò với viền tối ở các mép (so với quần thể ở Nam Á và Đông Nam Á không có vằn ngang hoặc vằn không đều hoặc vằn màu sáng đa dạng hoặc đường thêu dày). Số lượng vảy nhỏ giữa tấm vảy cằm phía sau hầu hết là 1 hiếm khi 2 (thường là 3 hoặc 2, hiếm khi 4 hoặc 1 ở Naja fixi). Vảy bụng 179 – 199 (so với 179 – 205 ở quần thể Nam Á và 168 – 186 ở quần thể Đông Nam Á).
Quần thể ở vùng đồng bằng Bangladesh và phụ cận có cặp vằn ngang màu sáng hoặc đường thêu dày trên thân hoặc có một hoặc hai vằn ngang rõ ở cổ sau mang bành. Quần thể ở vùng núi miền nam dãy Himalayan không có vằn ngang trên thân ngoại trừ một vài cá thể có một hoặc hai vằn ngang sau mang bành. Quần thể ở Thái Lan, Malaysia có màu nâu sáng. Quần thể ở miền Nam Việt Nam có màu nâu đậm.
Loài này hình thái bên ngoài khá giống với Rắn hô mang một mắt kinh Naja atra. Dựa vào hình thái ngoài, nhất là dựa vào hoa văn ở mặt, cổ, phần lưng đặc biệt là khi rắn bạnh cổ, có thể chia rắn hổ mang thường thành hai phân loài: Phân loài Rắn hổ mang trung quốc Naja astra astra và Rắn hổ mang một mắt kính có gọng Naja naja naja. Khi rắn bạnh cổ, trên cổ ở mặt lưng có một vòng tròn màu sáng (mắt kính), ở hai bên có 2 dải màu trắng (gọng kính). Chính giữa “mắt kính” có một vết màu nâu đen. Một hoặc cả hai “gọng kính” có thể bị tiêu giảm nhiều hoặc ít. Mặt bụng phần cổ có một dải rộng sẫm màu nằm ngang. Lưng thường có màu nâu sẫm hay vàng lục thường có những vạch ngang nhỏ hơi sáng.
Sinh học, sinh thái:
Rắn mang một mắt kính thiếu gọng sống ở đồng bằng, trung du và miền núi. Hoạt động về ban đêm, ban ngày trú trong hang mối hoặc hang chuột nhiều trường hợp rất gần với nơi ở của con người. Rắn trưởng thành ăn chuột, cóc, rắn… rắn non ăn ếch nhái, lưỡng cư là chủ yếu. Rắn giao phối vào tháng 5 và đẻ trứng vào tháng 6, đẻ 9 – 22 trứng, kích thước 59 – 62 / 29 – 29 mm và có hiện tượng con các canh giữ trứng. Trứng nở vào tháng 8. Con non mới nở dài 200 – 350 mm và có khả năng bạnh cổ.. Con non mới nở dài 280 – 350 mm, cũng thường dài hơn Rắn hổ mang thường. Đây là loài rắn có nọc độc thần kinh và nguy hiểm chết người. Con non mới nở đã có thể bành cổ hung dữ và có nọc độc gây nguy hiểm cho người.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị, Huế (Thừa Lưu), Đăk Lăk (Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Đà Lạt), Thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang (U Minh Thượng)..
Nước ngoài: Bangladesh, Myanmar, Campuchia, Đông Bắc Ấn Độ (Uttar Pradesh, Bihar, Sikkim, Assam, Tây Bengal, Orissa, Odisha, Tripura, Mizoram, Nagaland), Bhutan, Lào, Malaysia, Nam Trung Quốc (Vân Nam), Thái Lan.
Giá trị:
Là loài có giá trị khoa học. Rắn hổ mang là loài rắn độc cắn chết người. Tuy nhiên nọc độc của chúng cũng được dùng làm thuốc chữa đau các khớp xương, tê thấp, còn dùng làm thuốc tê.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh bị tác động nhưng do bị săn bắt cạn kiệt ở nhiều nơi để làm dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng hơn 30% trong vòng 20 năm trở lại đây, nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: VU A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một số cơ sở đã nhân nuôi sinh sản thành công loài này để phục vụ mục đích thương mại. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống và quần thể của loài..

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae