Rắn hổ mang hai mắt kính
| Tên tiếng Anh: | Chinese cobra |
|---|---|
| Tên Latin: | Naja atra |
| Đồng danh: | Coluber naja Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Naia naia Bourret, 1936 |
| Đồng danh: | Naja tripudians Merrem, 1920 |
| Đồng danh: | Coluber naja Linnaeus, 1758 |
| Tên khác: | Rắn hổ mang trung quốc |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Quảng Bình Quảng Trị Nepal Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Srilanca Pakistan Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Việt Nam Bangladesh Bhutan
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Trong các khu vực hang động, hang đá
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên Bảo tồn tại chỗ để giữ lại nguồn gen trong tự nhiên
- Sinh thái Loài có nọc độc thần kinh nguy hiểm chết người Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Ăn các loài động vật máu nóng (chim, thú)
RẮN HỔ MANG HAI MẮT KÍNH
Naja atra Cantor, 1842
Coluber naja Linnaeus, 1758
Naia naia Bourret, 1936
Naja tripudians Merrem, 1920
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Đầu hình tam giác, rộng nhất ở giữa các vảy chẩm. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 730 mm, dài đuôi 122 mm. Dài đầu 20.2 mm. Rộng đầu 19.8 mm. cao đầu 8.8 mm. Khoảng cách hai mắt 10.3 mm. Vảy bụng 175. Vảy dưới đuôi 45 cặp. Vảy lưng mượt, 22 – 21 – 15 hàng, thon dài, rộng hơn vảy bụng. Vảy xương sống giống các vảy lưng liền kề. Vảy đầu mịn. Vảy mõm dễ thấy từ trên xuống. Các vảy mũi lớn, phân chia. Mũi hình bầu dục dọc, lớn hơn một nửa đường kính mắt, bao quanh bởi vảy trước mũi phía trước và vảy sau mũi. Không có vảy má. Vảy trước mắt 1/1 (trái/ phải), bao rộng với vảy môi trên thứ ba, vảy trên mắt, vảy trước trán, vảy gian mũi, vảy sau mũi và chạm mắt. Vảy gian mũi phân chia, nối rộng với nhau. Vảy trước trán phân chia thành hình thang, nối rộng với vảy còn lại. Vảy trán dài hơn rộng, hình khiên. Các vảy chẩm lớn và phân chia. Mỗi vảy bao quanh vảy trán, hai vảy trên mắt phía trên, vảy thái dương phía trước và phía sau, hai vảy nhỏ ở mặt lưng của đầu. Mắt tròn, nằm dọc bằng chiều cao của viền vảy môi trên thứ tư. Vảy sau mắt 3/3, trong đó vảy ở giữa lớn hơn hai vảy bên cạnh, nhỏ hơn vảy trước mắt, vảy nhỏ nhất nối rộng với vảy môi trên thứ tư và thứ năm. Vảy thái dương 2+3/2+2, trong đó vảy phía trước bên dưới hình lục giác, dài hơn cao, vảy phía sau ở dưới là lớn nhất ở mặt bên đầu, hình dáng không đều. Vảy môi trên 7/7, trong đó hai vảy đầu tiên nhỏ nhất, bao quanh các vảy mũi, vảy thứ ba và bốn cao hơn rộng, bao quanh mắt, vảy thứ bảy dài nhất. Vảy cằm hình tam giác ở góc nhìn ngang và nhìn từ dưới lên. Vảy môi dưới 9/9, trong đó vảy đầu tiên đến thứ ba nối với tấm vảy cằm phía trước, cặp đầu tiên nối với nhau, và mép phía trước của tấm vảy cằm phía trước, vảy thứ tư nối với cả các tấm vảy cằm phía trước và sau, vảy thứ năm nhỏ và kém phát triển, khó thấy từ dưới lên, rời vảy thứ tư nối rộng với vảy thứ sáu, vảy thứ sáu nối với tấm vảy cằm phía sau, vảy thứ vảy đến thứ chín thon dài, không nối với tấm vảy cằm. hai cặp tấm vảy cằm hình bướm. Chỉ có một vảy thon dài tách biệt hai tấm vảy cằm phía sau.
Màu sắc trạng thái tiêu bản: Lưng và mặt trên của đầu có màu nâu, mặt dưới đầu màu nhạt hơn, rãnh của vảy môi trên đầu tiên đến vảy thứ sáu và vảy môi trên thứ tư đến thứ vảy có đường biên màu nâu sâu hẹp. Lưng và đuôi màu nâu đậm, 16 vằn ngang màu nâu sáng xuất hiện trên thân, phủ trên một hàng vảy lưng, có các viền hẹp sẫm, vằn ngang mờ ở phía trước, dần rõ ở phía sau thân và đuôi. 7 vằn ngang màu nâu sáng ở mặt lưng của đuôi, có viền sẫm rõ. Hầu hết các vằn ngang trên thân và đuôi đều rẽ đôi gần các vảy bụng, có một đốm thâm ở đáy các vằn ngang. Vệt trên mang bành màu nâu nhạt, hình trái tim, có một vệt lõi thâm, rõ, lớn hơn và hai vệt nhỏ hơn ở hai bên, nối rộng với mép nâu nhạt của mặt cổ. Một đốm thâm nhỏ ở trên các đường biên của vảy bụng thứ tám. Các vảy lưng giữa vệt mang bành và vệt thâm nhỏ màu nâu nhạt. Mặt bụng của đầu và cổ màu trắng có vệt vàng sáng. Vệt lớn đầu tiên trên bụng sẫm màu, bắt đầu ở vảy bụng thứ 14 và phủ lên hầu hết năm vảy. Ba vảy từ thứ 19 đến 21 sau vệt đầu tiên màu kem vàng, rồi dần trở nên nâu, nâu hoàn toàn ở vảy bụng thứ 24. Các vảy bụng sau vảy thứ 24 có màu nâu đậm, một ít có mép nhạt vì màu của vằn ngang màu nâu sáng trên lưng chạy xuống bụng. Tấm vảy huyệt và vảy dưới đuôi màu nâu sáng, nhạt hơn ở chỗ gần vằn ngang từ lưng tràn xuống Nanh độc cứng, ngắn, chót răng chạm giữa vảy môi trên thứ tư. Không có cơ chế phun nọc. Lỗ tiết nọc lớn và thon dài. Cơ quan bán sinh dục có hai thuỳ, mảnh, được phủ bởi gai nhỏ dày đặc. Gai nhỏ hơn và thưa hơn ở trong, lớn hơn và rậm hơn ở ngoài. Các gai ở ngoài gắn yếu với đáy, xếp thành hàng. Hai cặp nếp mặt bên phát triển rõ nhìn từ rãnh, dễ nhận thấy và được phủ bởi gai dày đặc. Thuỳ dưới nằm ở hai phần ba thân của cơ quan, gần đáy. Thuỳ trên ở hai phần ba cơ quan và chạm phần ba đầu tiên. Một chỗ thắt ngang lại chia các thuỳ. Khe đan chéo, xoắn ốc hướng tâm đến đỉnh của mặt rãnh. Chót rãnh không dễ thấy từ góc nhìn raanh. Môi rãnh phát triển, được phủ đầy gai. Cơ quan sinh dục chạm đến vảy dưới đuôi thứ 10 đến 12 khi không lận ra, đan chéo ở vảy môi dưới đuôi thứ 6 đến thứ 9. Khi cương cứng chạm tới vảy dưới đuôi thứ 29 đến 30 và đan chéo ở vảy thứ 11 đến 14
Loài này hình thái bên ngoài khá giống với Rắn hô mang một mắt kinh Naja kaouthia. Dựa vào hình thái ngoài, nhất là dựa vào hoa văn ở mặt, cổ, phần lưng đặc biệt là khi rắn bạnh cổ, có thể chia rắn hổ mang thường thành hai phân loài: Phân loài Rắn hổ mang trung quốc Naja astra astra và Rắn hổ mang một mắt kính có gọng Naja naja naja. Khi rắn bạnh cổ, trên cổ ở mặt lưng có một vòng tròn màu sáng (mắt kính), ở hai bên có 2 dải màu trắng (gọng kính). Chính giữa “mắt kính” có một vết màu nâu đen. Một hoặc cả hai “gọng kính” có thể bị tiêu giảm nhiều hoặc ít. Mặt bụng phần cổ có một dải rộng sẫm màu nằm ngang. Lưng thường có màu nâu sẫm hay vàng lục thường có những vạch ngang nhỏ hơi sáng.
Rắn hổ mang thường – Naja astra khác các loài cùng Giống Naja bởi những đặc điểm sau:
Khác với loài Naja fuxi vành khuyên trên mang bành hình thành vòng hoàn thiện (so với hình mắt kính). Hoa văn họng rõ, đốm bên thân lấn lên hàng vảy lưng dưới cùng (so với hoa văn mờ, đốm bên thân lấn lên hàng vảy lưng thứ hai). Vằn ngang đơn, đều và hẹp xuất hiện ở giữa và phần sau của lưng và mặt lưng của đuôi ở cả con non lẫn trưởng thành, màu nâu da bò với viền tối ở các mép (so với không có vằn sáng đều trên thân, có một vài đường dệt dày đặc màu vàng và nâu trên thân).
Sinh học, sinh thái:
Rắn hổ mang thường hay sống ẩn trong hang chuột, hang mối ở đồng ruộng, làng mạc, vườn tược, bờ đê, gò đống, dưới gốc cây trong bụi tre. Trong nhiều trường hợp chúng bò vào hang chuột, ăn chuột rồi chiếm lấy hang. Kiếm ăn vào ban đêm, ăn chủ yếu chuột song ăn cả rắn thằn lằn, cóc và ếch. Là loài có nọc độc thần kinh gây nguy hiểm chết người nếu bị cắn. Rắn non chủ yếu ăn ếch nhái. ở Bắc Việt Nam Rắn hổ mang thường hay Rắn hổ mang có gọng kính lột xác quanh năm, nhiều nhất vào tháng 8 và các tháng trong mùa trú đông (tháng 12, 1, 2) giao phối vào cuối tháng 4 đầu tháng 5, đẻ trứng vào tháng 6 tháng 7 (chủ yếu vào tháng 6) từ 6 – 20 trứng/lứa. Rắn mẹ quấn lấy trứng để bảo vệ. Trứng nở vào tháng 8 sau 50 – 57 ngày. Con sơ sinh dài từ 250 – 270 mm đã có khả năng bạnh cổ, cắn chết người. Rắn non thường dữ hơn rắn trưởng thành. Lượng nọc độc tối thiểu làm chết người là 15 mg.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố rộng rãi ở đồng bằng, trung du, miền núi. Có nhiều ở miền Bắc Việt Nam có thể kéo dài về phía Nam đến Quảng Bình, Quảng Trị. Từ Đà Nẵng trở vào, rắn hổ mang trung quốc đã trở nên vô cùng ít.
Nước ngoài: Pakistan, Trung Quốc, Ấn Độ (khắp hầu hết đất nước, bao gồm Madhya Pradesh, Assam, Tamil Nadu, Punjab, Maharashtra, Kerala, Gujarat, Jammu và Kashmir, Telangana), Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Bhutan.
Giá trị:
Có giá trị khoa học từ nọc rắn để chữa các bệnh về xương khớp. Có giá trị bảo vệ thực vật (diệt chuột) bảo vệ mùa màng.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh bị tác động nhưng do bị săn bắt cạn kiệt ở nhiều nơi để làm dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng hơn 30% trong vòng 20 năm trở lại đây, nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: VU A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một số cơ sở đã nhân nuôi sinh sản thành công loài này để phục vụ mục đích thương mại. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống và quần thể của loài..
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm tím sapphia
Tên tiếng Anh:Purple sapphire
Tên Latin:
Cóc rừng
Tên tiếng Anh:Bony-headed toad
Tên Latin:Ingerophrynus galeatus
Rắn khuyết đốm
Tên tiếng Anh:Banded wolf snake
Tên Latin:Lycodon fasciatus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae