TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn hổ đất nâu

Tên tiếng Anh: Common mock viper
Tên Latin: Psammodynastes pulverulentus
Đồng danh: Dipsas ferruginea Cantor, 1839
Đồng danh: Lycodon bairdii Steindachner, 1867
Đồng danh: Anisodon lilljeborgi Rosen, 1905
Đồng danh: Dipsas ferruginea Cantor, 1839
Tên khác: Rắn giả hổ thường
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN HỔ ĐẤT NÂU

Psammodynastes pulverulentus (Boie, 1827)
Dipsas ferruginea Cantor, 1839
Lycodon bairdii Steindachner, 1867
Anisodon lilljeborgi Rosen, 1905
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Con cái có chiều mút mõm đến lỗ huyệt 325 mm, dài đuôi 68 mm. Đầu tam giác, phân biệt với cổ. hoa văn khá vằn vện, do đó loài hổ đất nâu này thường bị nhầm lẫn với các loài rắn có nọc độc khác. Mắt có con ngươi tròn. Mõm nhọn. Vảy gian mũi 2, rộng hơn dài, không nối với vảy má. Vảy mũi không phân chia. Vảy chẩm dài hơn rộng. Vảy má 1, không nối với mắt. Vảy trước mắt 2/2. Vảy sau mắt 2/2, bao quanh các vảy trước thái dương. Vảy trước thái dương 2/2. Vảy sau thái dương 2/2. Vảy môi trên 8/8, trong đó vảy thứ ba đến năm chạm mắt, vảy thứ sáu lớn nhất. Vảy môi dưới 7/7, trong đó vảy thứ nhất đến thứ ba bao quanh tấm vảy cằm. Vảy lưng 17 – 17 – 15 hàng, mượt. Vảy bụng 166. Vảy huyệt nguyên. Vảy dưới đuôi 54, phân chia. Hoa văn thường hay biến đổi, những cá thể có vùng phân bố ở miền Bắc thường có màu cơ thể nhạt hơn so với màu đậm ở phía Nam và miền Trung Việt Nam.
Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu, thân và đuôi màu nâu đỏ, có các đốm đen và vằn sáng mờ, viền đen. Mặt lưng của đầu có sọc thâm. Mặt bên của đầu có một sọc trắng chạy từ sau mũi đến cổ. Bụng màu kem.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là thằn lằn và ếch và chúng săn mồi cả ngày lẫn đêm. Loài này đẻ con trứng, mỗi lứa đẻ từ 5 – 10 con, rắn con dài 15 – 18 cm trông giống rắn trưởng thành. Loài sống trên cạn, phần lớn thời gian ở trên cây này cư trú ở các cánh rừng thường xanh, rừng thứ sinh có nhiều cây bụi nhỏ ở tầng thấp, núi cao trên 700 m và đã gặp ở 1.557 m, nhưng thỉnh thoảng ở những nơi thấp hơn. Tên loài được đặt tên theo tiếng Latin “pulverulentus” = “bụi”, có lẽ được đặt tên theo hình thái phần bụng của loài này có bột màu nâu.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Ngân Sơn), Bắc Thái, Hoà Bình (Thượng Tiến, Vạn Mai), Quảng Ninh (Ba Mùn), Nghệ An (Tân Kỳ), Hà Tĩnh, Gia Lai (Sơklang), Đắc Lắc, Lâm Đồng, Phú Yên, Khánh Hoà, Tây Ninh, Đồng Nai (núi Chứa Chan, Trảng Bom, Định Quán, Mã Đà, Cát Tiên), thành phố Hồ Chí Minh.
Nước ngoài: Bangladesh, Myanmar, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Nepal, Bhutan, Philippines, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Thiên tạo, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae