TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn hổ chúa

Tên tiếng Anh: King croba
Tên Latin: Ophiophagus hannah
Đồng danh: Hamadryas hannah Cantor, 1836
Đồng danh: Hamadryas ophiophagus Cantor, 1838
Đồng danh: Ophiophagus elaps Gunther, 1864
Đồng danh: Naja hannah Smith, 1943
Tên khác: Rắn hổ mang chúa
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN HỔ CHÚA

Ophiophagus hannah (Cantor, 1836)
Hamadryas hannah Cantor, 1836
Hamadryas ophiophagus Cantor, 1838
Ophiophagus elaps Gunther, 1864
Naja hannah Smith, 1943
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn độc có cỡ lớn, dài thân khoảng 3 – 4m, có khi đạt tới 6m, nặng 35kg. Có khả năng bạnh cổ, nhưng không bạnh to được bằng rắn hổ mang thường. Đầu tương đối ngắn, hơi dẹp, ít nhiều phân biệt so với cổ. Thân mảnh, thuôn nhỏ dần về phía sau, đuôi dài. Lưng rắn trưởng thành có màu vàng lục hay nâu, nhiều khi có màu đen chì. Đỉnh đầu có một vảy hình tam giác, đỉnh tam giác hướng về phía đuôi. Cá thể non có lưng màu đen với nhiều vạch ngang sáng, ở cổ có hoa văn hình chữ V ngược màu vàng nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Thường sống ở trung du và miền núi, sống trong rừng, đồi cây, thậm chí trong bụi tre làng, sống trong những hang dưới những gốc cây lớn trong rừng, bên bờ suối. Chúng leo cây và bơi rất giỏi, nhưng thường sống ở mặt đất. Kiếm ăn cả ban ngày lẫn ban đêm, thức ăn chủ yếu gồm những loài rắn khác hoặc đôi khi cả những loài. Hổ chúa đẻ khoảng 20 – 30 trứng/lứa vào khoảng tháng 4, tháng 5, trong tổ có nhiều lá cây hay mảnh thực vật, trứng được cả rắn bố và rắn mẹ canh giữ. Rắn sơ sinh dài khoảng 40 – 50 cm màu đen, thân có nhiều cạp màu vàng, cổ có hoa văn hình chữ V ngược màu vàng. Rắn hổ chúa là loài rắn độc thần kinh dữ tợn, rất nguy hiểm và chủ động tấn công người. Khi tấn công chúng thường dựng phần trước cơ thể. Chiều cao phần dựng của chúng phụ thuộc vào kích thước và chiều dài của chúng..
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp Việt Nam. Từ Cao Bằng, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Phú Yên, Ninh Thuận, Gia Lai, Kontum, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu đến Phú Quốc.
Nước ngoài: Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Neal, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Brunei Darussalam, Indonesia, Philippines.
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ và là tác nhân bảo vệ môi trường. Nọc rắn có giá trị dược liệu chữa bệnh và thương phẩm, nếu tổ chức nuôi theo mô hình trang trại, thuần dưỡng
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh đã bị tác động; sinh cảnh sống của loài này bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng, khai thác lâm sản, ô nhiễm môi trường; quần thể suy giảm do bị săn bắt cạn kiệt ở nhiều nơi để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng hơn 80% trong vòng 20 năm trở lại đây, các nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: CR A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này có tên trong Nghị định số 64/2019/NĐ-CP và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Đã có cơ sở nhân nuôi sinh sản thành công ở Vĩnh Sơn (Vĩnh Phúc). Rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 247.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae