TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn đẻn vảy bụng không đều

Tên tiếng Anh: Viperine sea snake
Tên Latin: Hydrophis viperinus
Đồng danh: Thalassophina viperina Schmidt, 1852
Đồng danh: Diseira praescutata Dumeril et al., 1854
Đồng danh: Hydrophis doliata Fischer 1856
Đồng danh: Praescutata viperina Van Der Koolj, 2001
Tên khác: Rắn biển vảy bụng không đều
  • Độ cao so mặt nước biển 10 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

ĐẸN VẢY BỤNG KHÔNG ĐỀU

Hydrophis viperinus (Schmidt, 1852)
Thalassophina viperina Schmidt, 1852
Diseira praescutata Dumeril et al., 1854
Hydrophis doliata Fischer 1856
Praescutata viperina Van Der Koolj, 2001
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài rắn biển có kích thước trung bình, tổng chiều dài, dài nhất được ghi nhận 1,4 m ở con đực và 1,2 m ở con cái. Dài đuôi 100 mm ở con đực và 80 mm ở con cái. Vảy hình lục giác, xếp liền kề thành 27 – 34 hàng ở trên gáy và 37 – 50 ở giữa thân. Vảy bụng 226 – 274, phía trước bằng một nửa chiều rộng của vảy thân, hẹp phía sau gấp hai lần chiều rộng vảy sát bên. Các tấm vảy đầu nguyên, vảy mõm phía trên, các tấm vảy mũi nối với nhau. Vảy trước trán dài hơn rộng nhưng nối với các vảy môi trên. Vảy trước mắt 1 hiếm khi 2. Vảy sau mắt 1 – 2. Vảy môi trên 7 – 9, trong đó vảy 3 – 5 bao quanh mắt. Thường có 1 vảy trước thái dương, đôi khi có 2 hoặc 3 vảy. Lưng xám bụng trắng vàng, có 25 – 35 vệt hình thoi màu nâu sậm vắt qua thân chấm đên nửa hông.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là những loài Cá lia thuộc giống Callionymus, Cá dẹt có gai Kumococius rodericensis, Chình biển Anguilliformes và Cá vàng. Chúng có hiện tượng đẻ con trứng (trứng thai). Mỗi lứa đẻ 3 con. Kích thước trứng sắp nở dài 23 mm. Con non lúc sắp nở dài 227.56 mm. Đây là loài rắn có chứa nọc độc thần kinh mạnh, nọc độc gây nguy hiểm chết người nếu không kịp thời cứu chữa.
Phân bố:
Trong nước: Các vùng biển từ vịnh Bắc Bộ, dọc theo bờ biển nước ta đến vịnh Thái Lan.
Nước ngoài: Biển Ấn Độ Dương, Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Biển Đông, phía đông bắc đến vùng ven biển Phúc Kiến và eo biển Đài Loan, Trung Quốc, Vịnh Ba Tư (Oman, các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Iran) đến Vịnh Bengal bờ biển bán đảo Mã Lai và Indonesia (Java, Borneo, Sumatra) Vịnh Thái Lan, Myanmar.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn khá phổ biến, nhưng cần quan tâm bảo về và nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2007 – phần động vật – trang 214.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae