TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn đẻn gai

Tên tiếng Anh: Spine-bellied sea snake
Tên Latin: Hydrophis hardwickii
Đồng danh: Lapemis hardwickii Gray, 1835
Đồng danh: Enhydris hardwickii Smith, 1920
Đồng danh: Lapemis hardwickii Gray, 1835
Đồng danh: Enhydris hardwickii Smith, 1920
Tên khác: Rắn biển gai
  • Độ cao so mặt nước biển 10 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN ĐẺN GAI

Hydrophis hardwickii (GRAY, 1834)
Lapemis hardwickii Gray, 1835
Enhydris hardwickii Smith, 1920
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn đẻn gai có thân ngắn, mập, vùng cổ không nhỏ hơn một nửa độ dày của thân. Tổng chiều dài 860 mm, trong đó đuôi dài 85 mm. Đầu lớn. Vảy hình lục giác hoặc hơi vuông góc, xếp liền nhau, 3 – 4 hàng ngoài lớn hơn những hàng còn lại. Con đực có 23 – 31 hàng hàng vảy quanh cổ, con cái có 27 – 35 hàng. Quanh thân giữa, con đực có 25 – 27 hàng vảy, con cái có 33 – 41 hàng vảy. Vảy bụng nhỏ, rõ ở phía trước và mờ ở phía sau, con đực có 114 – 186 vảy, con cái có 141 – 230 vảy. Vảy đầu nguyên. Vảy chẩm phân chia. Vảy trước trán thường nối với vảy thứ hai trên môi. Vảy trên môi 7 – 8, trong đó vảy thứ 3 – 4 bao quanh mắt, 1 vảy trước mắt và 1 – 2 vảy sau mắt. Vảy trước thái dương 2 hiếm khi 3. Nửa trên thân hạt ô lưu ánh vàng hoặc xanh, nửa dưới màu trắng. 35 – 50 khoanh màu hạt ô lưu đến xám ngang lưng, ngọn về một điểm phía mặt bên thân, đôi khi xuyến tròn. Có một sọc bụng hẹp, sẫm màu hoặc xuất hiện vết rộng không đều. Cá thể trưởng thành thường không có hoa văn và đều màu ô lưu đến xám sẫm. Đầu màu ô lưu nhạt đến đen, có đốm vàng trên mõm hoặc không.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở các cửa sông hay gần bờ với độ sâu không quá 70m. Chúng ăn cá. Đẻ con, mỗi lứa 1 – 4 con (thường là 2 – 3 con) vào khoảng tháng 12 đến tháng 2, có lẽ không đẻ hàng năm. Sống đơn độc và chỉ gặp bạn tình vào mùa giao phối. Là loài rắn có nọc độc thần kinh rất nguy hiểm chết người khi bị cắn nếu không kịp thời cứu chữa.
Phân bố:
Trong nước: Ở nước ta, đẻn gai là loài rắn biền thường gặp ở cả hai miền Nam, Bắc. Tên loài được đặt theo tên Thiếu tướng Thomas Hardwicke (1756 – 1835), người từng phục vụ trong quân đội Bengal của Công ty Đông Ấn Danh dự. Ông là một nhà tự nhiên học và nhà sưu tập nghiệp dư đã làm việc với Gray.
Nước ngoài: Rắn đẻn gai phân bố từ vịnh Bengan đến Nhật Bản và về phía nam đến Bắc châu Úc và Tân ghinê. Biển Đông về phía bắc tới bờ biển Phúc Kiến và Sơn Đông eo biển Đài Loan, Singapore, Quần đảo Ấn Độ, Philippin
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn khá phổ biến, nhưng cần quan tâm bảo về và nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae