TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Zeeshan A. Miza

Rắn đẻn đuôi sọc

Tên tiếng Anh: Ornate sea snake
Tên Latin: Hydrophis ornatus
Đồng danh: Aturia ornata Gray, 1842
Đồng danh: Distira andamanica Annandale, 1905
Đồng danh: Disteira ornata Taylor, 1922
Đồng danh: Chitulia ornata Wallach et al., 2014
Tên khác: Rắn biển đuôi sọc
  • Độ cao so mặt nước biển 10 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN ĐẺN ĐUÔI SỌC

Hydrophis ornatus (Gray, 1842)
Aturia ornata Gray, 1842
Distira andamanica Annandale, 1905
Disteira ornata Taylor, 1922
Chitulia ornata Wallach et al., 2014
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước nhỏ, chiều dài trung bình 60 cm. Kích thước lớn nhất là 115 cm. Con non mới nở dài 19 – 34 cm. Đầu lớn, hơi rộng hơn cổ. 7 – 8 vảy môi trên, trong đó vảy thứ hai chạm vảy trước trán, vảy thứ 3 và 4 chạm mắt. 1 vảy trước mắt. 2 – 3 vảy sau mắt. 2 vảy trước thái dương. Vảy gáy 28 – 37 hàng với con đực và 31 – 45 hàng với con cái. Vảy lưng giữa thân 33 – 45 hàng với con đực và 39 – 55 với con cái, có 4 – 12 hàng tăng. Vảy phía sau dạng gần hình lục giác, rộng xấp xỉ dài, gần xếp lợp hoặc xếp liền kề, vảy có gờ hoặc nốt sần ở trung tâm. Vảy bụng 209 – 260 với con đực và 236 – 312 với con cái. Các vảy rõ, rộng gấp hai lần vảy lưng, hẹp phía sau.
Màu sắc trong tự nhiên: Đầu màu xanh ô lưu hoặc xám, có vệt trắng vàng ở mõm và các mặt bên. Mắt có con ngươi tròn. Thân mập, tù ở đầu và đuôi. Đường kính lớn nhất ở giữa thân và phía sau lớn gấp hai lần cổ. Lưng màu xám hoặc ô lưu. Bụng trắng vàng. Có đốm thâm hình thoi hoặc vằn trên lưng, giãn cách nhau bởi các khoảng màu sáng hơn. Đuôi dẹt hình mái chèo, có vệt rõ nhưng màu nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Là loài rắn độc, bơi linh hoạt giữa các rạn san hô dưới biển. Đây là loài rắn độc, nọc độc thần kinh gây nguy hiểm chết người và dữ tợn nhất trong các loài rắn biển. Thức ăn chủ yếu của loài này là ăn cá. Đẻ không thường xuyên hàng năm, nhưng có thể là từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
Phân bố:
Trong nước: Phổ biến ở phía Đông bắc bộ qua Trung bộ (Phan Thiết, Mũi Kê Gà, Vũng Tàu) tới biển Nam bộ
Nước ngoài: Phân bố ở Ấn Độ Dương (Pakistan, Sri Lanka, Ấn Độ. Indonesia (Borneo), Papua New Guinea, Malaysia, Myanmar, Biển Trung Quốc: (Bờ biển Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, Đài Loan, Sơn Đông), Nhật Bản (Ryukyu), Vịnh Ba Tư (Oman, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Iran) qua Ấn Độ Dương Quần đảo Ấn Độ, Philippines, Vịnh Thái Lan, Úc (Tây Úc, Lãnh thổ phía Bắc, Queensland, New South Wales) New Caledonia (Quần đảo Loyalty, Quần đảo Solomon) theo McCoy 2000.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn khá phổ biến, nhưng cần quan tâm bảo về và nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Thiên Tạo, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae