Đẻn cạp nong môi vàng
| Tên tiếng Anh: | Yellow-lipped sea krait |
|---|---|
| Tên Latin: | Laticauda colubrina |
| Đồng danh: | Hydrus colubrinus Schneider, 1799 |
| Đồng danh: | Coluber laticaudatus Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Platurus laticaudatus Gunther, 1858 |
| Đồng danh: | Laticauda colubrina (Schneider, 1799) |
| Tên khác: | Rắn biển cạp nong vàng |
- Độ cao so mặt nước biển -1 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Châu Á Bà Rịa - Vũng Tàu Khánh Hòa Nghệ An Vườn Quốc gia Côn Đảo, Việt Nam Vùng biển ấm từ 300 vĩ độ Bắc đến 300 vĩ độ Nam Biển Thái Bình Dương Hầu khắp các vùng ven bờ biển Trung Bộ
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng ven biển Sống ở dưới nước mặn, đẻ trứng trên cạn Sống ở ven bờ nước mặn, nơi có vách và hang đá Bò sát nước mặn - Rắn biển
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Dùng để làm thuốc, nghiên cứu thuốc chữa bệnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Kiếm ăn ở môi trường nước mặn Loài có nọc độc thần kinh nguy hiểm chết người Ăn các loài sinh vật thủy sinh nước mặn
ĐẺN CẠP NONG MÔI VÀNG
Laticauda colubrina (Schneider, 1799)
Hydrus colubrinus Schneider, 1799
Coluber laticaudatus Linnaeus, 1758
Platurus laticaudatus Gunther, 1858
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn biển khá phổ biến. Chiều dài thân con đực 875 mm, con cái 1.420 mm. Dài đuôi 130mm ở con đực, 145 mm ở con cái. Các vảy bụng lớn, bằng một phần ba hoăc một nửa chiều rộng của thân. Lỗ mũi nằm gần phía trên của đầu. Các vảy mũi tách biệt bởi các vảy gian mũi. 21 – 25 hàng vảy xếp lợp dọc thân. Một tấm vảy trước trán. Vảy mõm không phân chia. Vảy bụng 213 – 243. Vảy dưới đuôi 37 – 47 đối với con đực, 29 – 35 đối với con cái. Đầu màu đen. Môi trên và mõm màu vàng đặc trưng và có còn vệt vàng trải rộng ra sau mỗi bên của đầu, trên mắt đến các vảy thái dương. Thân hình trụ. Mặt trên có màu xám xanh, bụng màu vàng. Các khoanh đen cùng kích thước xuất hiện toàn bộ chiều dài nhưng các khoanh hẹp và bị gián đoạn ở bụng. Đuôi có dạng mái chèo để thích nghi với điều kiện bơi trong nước.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài rắn có nọc độc thần kinh mạnh, nguy hiểm chết người. Một số loài Lươn là nguồn thức ăn của con non của chúng, rất có thể các con lươn này có chất đề kháng tiến hoá cùng độc tính của rắn. Một nghiên cứu chỉ ra rằng những con lươn thuộc Giống (Genus) Gymnothorax ở biển thuộc vịnh Caribe (nơi không phải là vùng phân bố của loài Laticauda colubrina) nếu bị cắn và tiêm một lượng nọc độc 0.1 mg/kg sẽ chết rất nhanh. Nhưng những con lươn thuộc Giống Gymnothorax sống ở vùng biển New Guinea (nơi phân bố của rắn này) thì phải tiêm lượng nọc độc lên đến 75 mg/kg mới gây tổn thương chúng.
Đây là loài rắn nửa sống dưới nước (biển), nửa sống trên cạn (bờ biển có nhiều đá mẹ ven bờ). Con non, sống trong nước, cá thể trưởng thành có thể di chuyển vào đất liền và chia nửa thời gian sống trên đất liền và nửa thời gian sống ở biển. Con đực hoạt động ở đất liền nhiều hơn trong suốt mùa giao phối và săn mồi ở vùng nước cạn hơn, chúng cần những hoạt động di chuyển trên đất liền nhiều hơn. Ngược lại, con cái ít hoạt động trên đất liền trong suốt mùa giao phối, chúng ăn ở vùng nước sâu hơn và cần di chuyển trong nước nhiều hơn. Bởi vì con đực nhỏ hơn nên khả năng bò trườn và bơi nhanh hơn con cái. Loài bò sát này sẽ quay về nơi chúng sinh ra để làm tổ, đẻ trứng, dù chúng kiếm ăn xa ở bất cứ vùng biển nào, chúng vẫn trở lại nơi đã sinh ra để sinh sản. Các nghiên cứu ghi nhận rằng một vài cá thể con non được đưa đến ở nơi cách hòn đảo chúng sinh ra 5.3 km. Nhưng tất cả các cá thể đều lần lượt trở về đảo sau trung bình khoảng 30.7 ngày.
Loài rắn này có khả năng cộng sinh bằng cách cùng hợp tác săn mồi với loài cá Caranx ignobilis và các loài cá thuộc Họ Cá phèn Mullidae. Chúng lặn sâu, đuổi con mồi ra khỏi kẽ hốc hẹp dướn rạn San hô hay hốc đá để những con cá bên ngoài bắt những con mồi chạy trốn. Để tự vệ bằng khả năng ngụy trang, chúng chuyển động phần đuôi dẹt có màu khá giống đầu để đánh lừa, trốn thoát các loài cá ăn thịt lớn hơn như Cá mập, Cá chim. Thức ăn chính của chúng là các loài lươn thuộc các Họ Congridae, Muraenidae và Ophichthidae, đôi khi cũng có ăn các loài cá nhỏ thuộc các Họ Pomacentridae và Synodontidae. Sau khi ăn mồi, chúng thường lên đất liền để tiêu hoá. Mùa đẻ trứng vào những ngày nắng ấm từ tháng 9 đến tháng 12. Chúng đẻ 10 trứng một ổ.
Phân bố:
Trong nước: Hầu hết các vùng biển, đảo thuộc miền Trung Việt Nam từ Nghệ An trở vào đến Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nước ngoài: Gặp hầu khắp các vùng biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các công viên nước đại dương để phục vụ du lịch và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Mặc dù là loài rắn độc, có nọc độc thần kinh, nguy hiểm chết người nếu bị cắn. Nhưng số lượng không còn nhiều vì bị con người săn bắt. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển vững bền loài này trong môi trường tự nhiên của chúng.
Mô tả loài: Nguyễn Thiên Tạo, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Tắc kè mắt tròn côn đảo
Tên tiếng Anh:Boulenger's rock gecko
Tên Latin:Cnemaspis boulengerii
Vượn đen siki
Tên tiếng Anh:Southern white-cheeked gibbon
Tên Latin:Nomascus siki
Cóc nước lima
Tên tiếng Anh:Green puddle frog
Tên Latin:Occidozyga lima
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae