TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn chàm quạp

Tên tiếng Anh: Malayan pit viper
Tên Latin: Calloselasma rhodostoma
Đồng danh: Trigonocephalus rhodostoma Boie, 1827
Đồng danh: Leiolepis rhodostoma Dumeril & Bibron, 1854
Đồng danh: Agkistrodon rhodostoma Sworde, 1933
Đồng danh: Ancistrodon annamensis Angel, 1933
Tên khác: Rắn lục đất nâu
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN CHÀM QUẠP

Calloselasma rhodostoma (Boie, in Boie, 1827)
Trigonocephalus rhodostoma Boie, 1827
Leiolepis rhodostoma Dumeril & Bibron, 1854
Agkistrodon rhodostoma Sworde, 1933
Ancistrodon annamensis Angel, 1933
Họ: Rắn lục Viperidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài lớn nhất là 1,8 m (dài thân 892 mm, dài đuôi 116 mm) đối với con cái. Mõm trắng có đốm đen rải rác. Trán màu nâu sẫm có sọc trắng ở hai bên mép từ mõm đến cổ. Đuôi hóp mảnh hơn thân và ngắn, phân biệt rõ với các phần của thân. Con non có đuôi màu vàng. Mắt nhỏ có con ngươi hình bầu dục dọc đứng. Vảy lưng: 22 – 21 – 17 đối với con đực, 22/23/24 – 21 – 17 đối với con cái. Các vảy đều không có gờ. Vảy bụng 141 – 152 đối với con đực, 148 – 156 đối với con cái. Vảy dưới đuôi 48 – 56 đối với con đực và 31 – 43 đối với con cái, tất cả các vảy dưới đuôi đều kết cặp. Vảy huyệt nguyên. Vảy mõm đơn và dễ thấy từ trên xuống. 2 vảy gian mũi nối với vảy mõm. 2 vảy trước trán chạm hốc má. 1 vảy trán. 2 vảy trên mắt. 2 vảy chẩm nối với vảy thái dương. Vảy môi trên 7 – 8 ở con đực, 7 – 9 với con cái, trong đó vảy thứ ba và tư nối với mắt. Vảy môi dưới 10 – 12 ở con đực, 11 – 13 với con cái. Số lượng dãy vảy màu nâu sẫm xếp hoa văn tam giác trên lưng là 19 – 31.
Tuỳ vào khu vực phân bố mà cấu tạo vảy đầu của loài này có ba dạng xuất hiện vảy phụ nhỏ như sau:
Dạng 1: Không có vảy nhỏ ở cả hai bên đầu.
Dạng 2: Mỗi bên của đầu đều có một vảy nhỏ.
Dạng 3: Có một vảy nhỏ ở mặt bên phải của đầu.
Lưng màu nâu nhạt, nâu xám hoặc nâu đỏ, có hai dãy vệt hình tam giác viền đen màu nâu sẫm lớn mà có thể thuận hoặc đối nhau và khác biệt hoa văn phần lưng với Rắn lục núi Ovophis monticola, Rắn lục cườm Protobothrops mucrosquamatus. Có một sọc xương sống màu nâu sẫm mảnh. Môi trên màu hồng hoặc vàng phớt nâu. Có sọc chéo màu nâu sẫm lớn, viền đen chạy từ mắt đến góc mõm kèm một sọc sọc sáng màu hẹp ở trên nó. Bụng màu vàng, đều màu hoặc phớt đốm nâu xám.
Sinh học, sinh thái:
Là loài ăn đêm và thích độ ẩm cao, thường dùng chiếc đuôi đu đưa để hấp dẫn con mồi. Thức ăn ăn các loài lưỡng cư Limnonectes dabanus, Occidozyga martensi, Polypedates leucomystax, Hylarana nigrovittata, các loài chuột, chim nhỏ v á các loài rắn khác. Thường phục kích, tấn công con mồi một cách bất ngờ. Các con cái đẻ tử 13 đến 30 trúng và canh giữ trong suốt khoảng thời gian từ 5 đến 7 tuần lễ ấp trứng. Ở miền Nam Việt Nam, những con rắn nở vào những đêm mưa tháng 10 đến tháng 11. Đây là thời gian giúp chúng dễ sẵn những cá thể của hai loài Fejervarya limnocharis và Occidozyga martensi. Con non mới nở dài 155 – 175 mm, giống như rắn trưởng thành. Loài rắn sống trên cạn này thích những khu đất rừng thấp, khô ráo nhưng đã được tìm thấy ở độ cao 2.000 m. Rắn có nọc độc tế bào gây ảnh hưởng đến máu (đông máu) phá hủy hồng cầu và mô, gây đau đớn và chảy máu nghiêm trọng. Có khả năng gây nguy hiểm, chết người.
Phân bố:
Trong nước: Ninh Thuận (Phan Rang, Vĩnh Hoà), Sông Bé (Bến Cát, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một), Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hoà, Long Bình, Cát Tiên, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc), An Giang (Phú Vinh)
Nước ngoài: Loài rắn này được tìm thấy trên khắp Thái Lan và các tiểu bang phía Bắc bán đảo Malaysia, Indonesia (Java), Lào, Cambodia, Ấn Độ
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính loài sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae