TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn cát

Tên tiếng Anh: Indo-chinese sand snake
Tên Latin: Psammophis indochinensis
Đồng danh: Psammophis condanarus indochinensis Smith, 1943
Đồng danh: Taphrometopon indochinensis Wallach et al., 2014
Đồng danh: Psammophis condanarus indochinensis Smith, 1943
Đồng danh: Taphrometopon indochinensis Wallach et al., 2014
Tên khác: Rắn cát đông dương
  • Độ cao so mặt nước biển 1900 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN CÁT

Psammophis indochinensis Smith, 1943
Psammophis condanarus indochinensis Smith, 1943
Taphrometopon indochinensis Wallach et al., 2014
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 540 mm. Dài đầu 19 mm. Rộng đầu 13 mm. Dài đuôi 57 mm. Vảy lưng mượt và sáng, công thức 17 – 17 – 13 hàng (17 hoặc 19 ở giữa thân). Vảy bụng 163. Vảy huyệt phân đôi. Vảy dưới đuôi 27 cặp. Vảy mõm rộng hơn cao, khó nhìn từ trên xuống. Vảy gian mũi hơi dài hơn rộng. Vảy trước trán dài hơn rộng. Vảy trán hẹp phía sau, thon dài. Vảy trên mắt rộng hơn vảy trán. Vảy chẩm hơi ngắn hơn vảy trán. Vảy chẩm hơi ngắn hơn vảy trán. Hai cặp tấm vảy cằm, trong đó tấm vảy trước lớn hơn tấm sau. Các vảy mũi chia đôi, dài gấp hai lần cao. Hai vảy trước mắt, phần trên chạm đỉnh đầu, không chạm vảy trán. Không có vảy dưới mắt. 2 vảy sau mắt. 9 vảy môi trên, trong đó vảy thứ 5 và 6 chạm mắt, vảy thứ 7 lớn nhất. 10 vảy môi dưới, trong đó 5 vảy đầu tiên nối với tấm vảy cằm. 1 vảy thái dương ở hàng thứ nhất được theo sau bởi 3 vảy thái dương ở hàng thứ hai.
Màu sắc trong tự nhiên: Thân màu ô lưu nhạt, có bốn sọc nâu hạt dẻ chạy từ mõm đến thân, được bao quanh bởi viền đen hẹp, nổi bật ở giữa thân và phía trước. Đầu có một sọc phụ giữa. Cằm và họng trắng và lốm đốm đen. Bụng vàng trắng đều màu, có hai sọc đen song song bên bụng chạy từ cổ đến đuôi.
Psammophis indochinensis khác các loài Psammophis condanarus ở những đặc điểm sau:
Số vảy bụng ít hơn (Psammophis indochinensis có 156 – 173 vảy so với 165 – 179 vảy ở Psammophis condanarus)
Vảy dưới đuôi ít hơn (Psammophis indochinensis có 66 – 85 vảy so với 75 – 93 vảy ở Psammophis condanarus)
Bốn sọc lưng có màu sáng ở Psammophis indochinensis, so với 5 sọc lưng có màu sẫm của Psammophis condanarus
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài thường săn bắt thằn lằn, ếch và các loài gặm nhấm nhỏ để làm thức ăn. Rắn cát là loài sống trên cạn nhưng leo trèo giỏi. Nó thích các khu rừng có độ cao tới 1.900m. Vết cắn của loài rắn hiền này có thể làm sưng tấy nhưng không được xem là nguy hiểm.
Phân bố:
Trong nước: Ninh Thuận (Phan Rang).
Nước ngoài: Loài này gặp ở các đồng bằng miền Trung phía Bắc và các vùng Đông Bắc của Thái Lan và Myanmar. Ngoài ra còn phân bố ở Campuchia, Lào, Indonesia (Java, Bali)
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng ven biển lấy đất mở các khu du lịch. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen. 

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae