TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn cạp nong

Tên tiếng Anh: Banded krait
Tên Latin: Bungarus fasciatus
Đồng danh: Pseudoboa fasciata Schneider, 1801
Đồng danh: Boa fasciata Shaw, 1802
Đồng danh: Bungarus annularis Daudin, 1803
Đồng danh: Aspidoclonion annulare Wagler, 1830
Tên khác: Rắn mai gầm
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN CẠP NONG

Bungarus fasciatus (Schneider, 1801)
Pseudoboa fasciata Schneider, 1801
Boa fasciata Shaw, 1802
Bungarus annularis Daudin, 1803
Aspidoclonion annulare Wagler, 1830
Họ Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn độc cỡ tương đối lớn, thường dài trên 1m. Đầu lớn và ngắn, ít phân biệt với cổ, mắt tương đối nhỏ và tròn, thân thường nặng nề, đuôi ngắn, mút đuôi tròn, giữa sống lưng có một gờ dọc rất rõ. Hàng vảy sống lưng hình sáu cạnh, lớn hơn vảy bên. Thân có khoanh đen và khoanh vàng xen kẽ, các khoanh xấp xỉ bằng nhau.
Sinh học, sinh thái:
Là loài rắn độc phổ biến khắp nơi, một trong những loài rắn độc phổ biến nhất ở đồng bằng, trung du và miền núi. Sống trong rừng hoặc những nơi gần chỗ ở của con người, thường gặp chúng nhiều hơn cả ở những địa hình cao giáp với nước, sống trong hang chuột hay hang mối đã bỏ ở bờ ruộng, gò đống, bờ sông, bờ đê, vườn tược, bụi tre, bờ ao. Trong mùa khô lạnh chúng thường ẩn náu đơn độc, đôi khi 2 đến 3 cá thể trong một hang, đôi khi sống chung cả với ếch đồng. Rắn cạp nong lột xác quanh năm và thường lột xác ở trong hang. Chúng kiếm ăn về ban đêm, bắt các loài rắn khác, đôi khi ăn cả thằn lằn. ở miền Bắc Việt Nam, Rắn cạp nong bắt đầu giao phối trong hang bắt đầu vào tháng 1 hoặc tháng 2, đẻ trứng trong hang vào tháng 5, tháng 6, đẻ trung bình 9 trứng (4 – 16 trứng). Rắn mẹ có tập tính cuốn lấy trứng để canh giữ. Trong thời gian này, rắn mẹ vẫn phải vừa canh giữ trứng vừa phải đi kiếm mồi. Con non xuất hiện vào tháng 7 hoặc tháng 8 thường dài khoảng 30 – 35cm. Rắn cạp nong ban ngày rất chậm chạp, ít cắn người, nhưng khi đã bị rắn cắn có thể bị tử vong, vì nọc độc thần kinh của rắn rất độc, tính độc gấp 4 lần so với Rắn hổ mang.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố rộng rãi khắp Việt Nam từ đồng bằng, trung du đến miền núi. Tuy nhiên số lượng không nhiều.
Nước ngoài: Đông bắc Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Bruney, Parussalam, Bhutan, Myanmar, Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Cambodia, Malaysia, Singapo, Indonesia (Sumatra, Java, Borneo).
Giá trị:
Có giá trị khoa học, thẩm mỹ, là tác nhân cân bằng sinh thái trong môi trường tự nhiên.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh gần khu vực dân cư nhưng do bị săn bắt cạn kiệt ở nhiều nơi để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng gần 30% trong vòng 30 năm qua; ngoài ra ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật ở các sinh cảnh nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến sinh sản của loài này; các nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: NT A2acde.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng cần cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2923 – phần động vật – trang 245.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae