TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Lars Fehlandt

Rắn cạp nong đầu đỏ

Tên tiếng Anh: Red-headed krait
Tên Latin: Bungarus flaviceps
Đồng danh: Elaps bivirgatus Shlegel, 1837
Đồng danh: Megaerophis flaviceps Tirant, 1885
Đồng danh: Elaps bivirgatus Shlegel, 1837
Đồng danh: Megaerophis flaviceps Tirant, 1885
Tên khác: Rắn cạp nong núi dinh
  • Độ cao so mặt nước biển 500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN CẠP NONG ĐẦU ĐỎ

Bungarus flaviceps Reinhardt, 1843
Elaps bivirgatus Shlegel, 1837
Megaerophis flaviceps Tirant, 1885
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn có kích thước lớn. Tổng chiều dài 1.850 mm, đuôi dài 220 mm. Lưng có 13 hàng vảy dọc giữa thân. Một gờ vảy nhô lên ở dãy xương sống rõ từ lưng xuống đuôi. Vảy dưới đuôi hình khiên, không phân chia, phía trước gần đỉnh tẻ đôi, con đực có 47 – 53 vảy, con cái có 42 – 54 vảy. Bụng có 220 – 236 vảy ở con đực và 193 – 217 vảy ở con cái. Phần trên thân màu đen. Có sọc lưng màu vàng cam. Da kẽ vảy màu vàng cam có xuất hiện sọc dọc. Đầu màu vàng cam. Đuôi và phần sau của thân màu vàng cam. Bụng màu cam hoặc vàng, đôi khi có viền màu nâu. Thân chắc, đen bóng, có những đốm nhỏ màu trắng chạy dọc theo sống lưng và hai bên thân. Phần trắng của bụng mở rộng tới những chiếc vảy đầu tiên trên thân. Phần chót đuôi màu đỏ.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu của loài này là các loài rắn khác và loài thằn lằn bóng chân ngắn. Loài rắn kiếm ăn đêm này có nọc độc thần kinh và khả năng gây chết người khi bị cắn, nếu không kịp thời cứu chữa. Rắn con chưa có dữ liệu ghi nhận, nhưng được cho là giống rắn trưởng thành. Rắn cạp nong đầu đỏ rất hiếm này sống ở các vùng rừng rậm có độ cao độ cao 400m so với mực nước biển
Phân bố
Trong nước: Mới chỉ được ghi nhận là tìm thấy ở Núi Dinh thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nước ngoài: Loài này phân bố ở Tenasserim, bán đảo Ratchaburi phía Nam Thái Lan, bán đảo Malaysia (đảo Sumatra, Bangka, và Kalimantan}.
Giá trị:
Loài này rất hiếm, có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng còn rất ít, hiện nay rất khó gặp loài này ở vùng phân bố của chúng ở núi Dinh thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Cần có kế hoạch điều tra cụ thể và nhanh chóng đưa loài này vào sách đỏ Việt Nam để quản lý bảo vệ. Nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae