TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn cạp nia nam

Tên tiếng Anh: Malayan krait
Tên Latin: Bungarus candidus
Đồng danh: Coluber candidus Linnaeus
Đồng danh: Bungarus coeruleus Tirant, 1885
Đồng danh: Bungarus semifasciatus Morice, 1875
Đồng danh: Bungarus javanicus Kopstein, 1932
Tên khác: Rắn hổ sơn nam
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN CẠP NIA NAM

Bungarus candidus (Linnaeus, 1758)
Coluber candidus Linnaeus, 1758
Bungarus coeruleus Tirant, 1885
Bungarus semifasciatus Morice, 1875
Bungarus javanicus Kopstein, 1932
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài rắn độc, lưng màu đen và có 18 – 26 khoanh trắng ngang thân, độ rộng mỗi khoang là 3 – 5 vảy xương sống. Bụng màu trắng thuần khiết, không có đốm nâu. Vảy vùng thái dương và mặt bên cổ màu trắng, tương phản với những vảy bên cạnh trên cổ ở con trưởng thành, màu trắng kem ở con non. Khoanh đen trên thân lớn, chiếm 3 – 5 vảy xương sống giữa thân, hoà lẫn với vảy bụng trắng. Vảy bụng có viền đen hẹp hơn 1 – 2 lần vảy lưng ngoài. Mặt bụng của đuôi có khoanh sẫm màu rộng. Bốn răng hàm trê hơi cong về phía sau. Đường giáp nối vảy trước trán dài gấp 1.4 – 2.4 lần đường giáp nối gian mũi. Vảy bụng 209 – 224. Vảy dưới đuôi 41 – 50. Cơ quan bán sinh dục lộn ngược một phần, có mấu gai lớn ở phần giữa của cơ quan ngay vảy dưới huyệt đầu tiên. Đài gai nhỏ xuất hiện gầy đáy và vùng mấu khác xuất hiện phía sau hàng mấu lớn. Đài mấu gai dọc cơ quan tất cả đều thon dài, mập ở đáy và dần dọn ở đỉnh, không có viền rõ. Đỉnh mấu gai keratin hoá mạnh, nửa trong suốt khi còn sống, hướng về đáy của cơ quan bán sinh dục. Giống như tất cả loài rắn thuộc giống Bungarus đều có các vảy trơn nhẵn và phình rộng nơi xương sống.
Những đặc điểm khác biệt về hình thái giữa 3 loài rắn cạp nia Bungarus sp. như sau:
Các loài rắn cạp nia Bungarus sp. có đặc điểm màu sắc và hình thái khá giống nhau nên việc phân biệt tương đối khó. Hơn nữa đây là các loài rắn có nọc độc thần kinh, rất nguy hiểm, khi bị cắn nạn nhân rất đễ bị tử vong nếu không kịp thời cứu chữa, nên việc thu mẫu và so sánh cũng rất nguy hiểm. Ba loài này được phân biệt khác nhau dựa trên các vảy đầu, vảy sống lưng hình lục giác rất to, với bề rộng khoảng trắng. Một đặc điểm khác để phân biệt giữa ba loài là dựa trên khu vực phân bố để. Tuy nhiên vảy đầu và đuôi cũng không có quá khác biệt nhiều.
Thân đen, với các khoang màu trắng, đầu có chữ V ngược trắng nhạt – Rắn cạp nia sông hồng Bungarus slowinskiiNếu phần vảy đầu không có chữ V – Rắn cạp nia nam Bungarus candidus.
Số vòng trắng trên thân ít hơn 25 (khoảng màu trắng bằng hoặc nhỏ hơn so với khoảng đen, khoảng từ 3 – 5 cái vảy trắng) – Rắn cạp nia nam Bungarus candidus. Đặc trưng loài này là thân có từ 14 – 25 vòng trắng (xen lẫn vòng đen). Hầu hết là 19 – 25. Tuy nhiên các công bố mới đây ở VQG Núi Chúa, Ninh Thuận loài này chỉ 14 và 15 vòng trắng Nếu số vòng trắng trên thân nhiều hơn – Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus.
Nếu số vòng trắng ở thân nhiều hơn 25 vòng, đôi khi số vòng trắng từ 36 – 40 cái, khoảng trắng hẹp hơn khoảng đen rất nhiều, chỉ cỡ 1.5 – 2 vảy và không có chữ V trên đầu – Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus.
Sinh học, sinh thái:
Là loài kiếm ăn đêm, sống ở các khu rừng rậm nhiệt đới và đã gặp ở độ cao 300m lên tới 1.500m. Thức ăn chủ yếu là các loại rắn khác, đôi khi chúng ăn cả thằn lằn, lưỡng cư. Con cái đẻ từ 4 – 10 trứng mỗi năm; rắn con dài 27 – 29cm. Loài rắn độc, nọc độc thần kinh có khả năng gây chết người nếu không kịp thời cứu chữa.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng, Động Châu), Quảng Trị (Đăk Rông, Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (A Lưới, Bạch Mã, Thừa Lưu), Quảng Nam (Nam Giang, Tây Giang), Bình Định, Phú Yên (Đại Lãnh), Ninh Thuận (Phan Rang, Núi Chúa), Bình Thuận (Tà Kóu), Bà Rịa – Vũng Tàu (Núi Dinh), Kon Tum (Kon Plong), Gia Lai (K Bang), Đăk Lăk (Chư Yang Sin), Đăk Nông (Đăk R’lấp), Lâm Đồng (Đà Lạt), Bình Phước (Nghĩa Trung), Đồng Nai (Cát Tiên), Tây Ninh (Bà Đen).
Nước ngoài: Campuchia, Lào, Indonesia (Java, Sumatra, Bali, Sulawesi) Malaysia và Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh gần khu vực dân cư nhưng do bị săn bắt ở nhiều nơi để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm gần 30% trong vòng 30 năm qua, yếu tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài. Cần nghiên cứu sinh thái, tập tính cũng như huyết thanh kháng độc để chữa trị cho người bị loài rắn này cắn.
Phân hạngNT A2ad.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng cần cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae