Rắn cạp nia bắc
| Tên tiếng Anh: | Blue krait |
|---|---|
| Tên Latin: | Bungarus multicinctus |
| Đồng danh: | Bungarus semifasciatus Gunther, 1858 |
| Đồng danh: | Bungarus caeruleus Stoliczka, 1870 |
| Đồng danh: | Bungarus semifasciatus Gunther, 1858 |
| Đồng danh: | Bungarus caeruleus Stoliczka, 1870 |
| Tên khác: | Rắn hổ sơn bắc |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Lào Thái Lan Trung Quốc Myanmar Nghệ An Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Du Già, Việt Nam Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Vũ Quang, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng núi đá vôi Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
RẮN CẠP NIA BẮC
Bungarus multicinctus Blyth, 1861
Bungarus semifasciatus Gunther, 1858
Bungarus caeruleus Stoliczka, 1870
Họ: Rắn hổ Elapidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài rắn độc có kích thước nhỏ. Vảy môi trên 7 (công thức 2 – 2 – 3). Vảy môi dưới 7. Không có vảy má. Vảy trước mắt 1. Vảy sau mắt 2. Vảy lưng trơn láng, nở rộng hình sáu cạnh, có 15 hàng vảy. Vảy bụng 207 – 214 ở con đực, 206 – 227 ở con cái. Vảy huyệt nguyên. Vảy dưới đuôi 45 – 52 cặp ở con đực, 43 – 65 cặp ở con cái. Đầu hình bầu dục, hơi phân biệt với cổ. Mõm tròn tù. Mắt hơi nhỏ. Trước hàm trên có 1 răng nanh, 3 răng nhỏ. Chiều dài thân 1064 mm ở con đực và 923 ở con cái. Dài đuôi 133mm ở con đực và 124 mm ở con cái. Mặt lưng màu đen có nhiều khoang trắng ngang thân. Mỗi khoang trắng có độ rộng khoảng 1 – 2 vảy. Ở phần thân có 36 – 46 khoang trắng. Mặt bụng màu trắng không có đốm hoa văn.
Những đặc điểm khác biệt về hình thái giữa 3 loài rắn cạp nia Bungarus sp. như sau:
Các loài rắn cạp nia Bungarus sp. có đặc điểm màu sắc và hình thái khá giống nhau nên việc phân biệt tương đối khó. Hơn nữa đây là các loài rắn có nọc độc thần kinh, rất nguy hiểm, khi bị cắn nạn nhân rất đễ bị tử vong nếu không kịp thời cứu chữa, nên việc thu mẫu và so sánh cũng rất nguy hiểm. Ba loài này được phân biệt khác nhau dựa trên các vảy đầu, vảy sống lưng hình lục giác rất to, với bề rộng khoảng trắng. Một đặc điểm khác để phân biệt giữa ba loài là dựa trên khu vực phân bố để. Tuy nhiên vảy đầu và đuôi cũng không có quá khác biệt nhiều.
- Thân đen, với các khoang màu trắng, đầu có chữ V ngược trắng nhạt – Rắn cạp nia sông hồng Bungarus slowinskii. Nếu phần vảyđầu không có chữ V – Rắn cạp nia nam Bungarus candidus.
- Số vòng trắng trên thân ít hơn 25 (khoảng màu trắng bằng hoặc nhỏ hơn so với khoảng đen, khoảng từ 3 – 5 cái vảy trắng) – Rắn cạp nia namBungarus candidus.Đặc trưng loài này là thân có từ 14 – 25 vòng trắng (xen lẫn vòng đen). Hầu hết là 19 – 25. Tuy nhiên các công bố mới đây ở VQG Núi Chúa, Ninh Thuận loài này chỉ 14 và 15 vòng trắng Nếu số vòng trắng trên thân nhiều hơn – Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus.
- Nếu số vòng trắng ở thân nhiều hơn 25 vòng, đôi khi số vòng trắng từ 36 – 40 cái, khoảng trắng hẹp hơn khoảng đen rất nhiều, chỉ cỡ 1.5 – 2 vảy và không có chữ V trên đầu – Rắn cạp nia bắc Bungarus multicinctus.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở độ cao thấp ở hầu khắp các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và các bụi rậm ở các khu vực đồng bằng phía Bắc Việt Nam cho đến Nghệ An. Kiếm ăn đêm ở các khe suối gần nương rẫy và rừng phục hồi. Thức ăn là những loài bò sát, lưỡng cư sống trong khu vực phân bố. Ban ngày ngủ trong các hang, hốc ở các bờ đất. Loài rắn độc, nọc độc thần kinh và rất nguy hiểm cho con người, nhất là trẻ nhỏ.
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp các tỉnh phía Bắc Việt Nam Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang đến Thanh Hóa, Nghệ An.
Nước ngoài: Đài Loan, Trung Quốc (bao gồm Hồng Kông, Hải Nam), Myanmar, Lào, Thái Lan.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Đây là loài có vùng phân bố rộng ở Việt Nam, có khả năng thích nghi với nhiều loại sinh cảnh, kể cả sinh cảnh gần khu vực dân cư nhưng do bị săn bắt ở nhiều nơi để làm thực phẩm, dược liệu và buôn bán; ước tính quần thể trong tự nhiên đã bị suy giảm khoảng gần 30% trong vòng 30 năm trở lại đây; ngoài ra ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật ở các sinh cảnh nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến sinh sản của loài này; các nhân tố tác động này hiện vẫn tồn tại ảnh hưởng trực tiếp đến quần thể của loài.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Bị săn bắt, buôn bán làm thực phẩm, dược liệu cổ truyền ở trong nước và quốc tế. Cần quản lý các hoạt động săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động của con người đến sinh cảnh sống cũng như đến quần thể của loài.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn lục vogel
Tên tiếng Anh:
Tên Latin:Viridovipera vogeli
Hạc cổ trắng
Tên tiếng Anh:Asian woolly-necked stork
Tên Latin:Ciconia episcopus
Cá cóc quảng tây
Tên tiếng Anh:Guangxi warty newt
Tên Latin:Paramesotriton guangxiensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae