Rắn bù lịch
| Tên tiếng Anh: | Striped water snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Enhydris jagori |
| Đồng danh: | Hypsirhina jagorii Gunther, 1864 |
| Đồng danh: | Hypsirhina smithi Boulenger, 1914 |
| Đồng danh: | Hypsirhina jagorii Gunther, 1864 |
| Đồng danh: | Hypsirhina smithi Boulenger, 1914 |
| Tên khác: | Rắn nước sọc |
- Độ cao so mặt nước biển 200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Campuchia Lào Thái Lan Kontum Đồng Nai Tây Ninh Hầu khắp các tỉnh miền Tây nam bộ Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, Việt Nam
- Môi trường sống Vùng savan, đồng cỏ bán ngập nước Đất nông nghiệp và khu vực ngập nước Sống ở dưới nước ngọt, đẻ trứng trên cạn Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Kiếm ăn ở môi trường nước ngọt Loài bò sát kiếm ăn ban đêm Ăn các loài sinh vật thủy sinh sống trong khu vực phân bố Bò sát đẻ con trứng
RẮN BÙ LỊCH
Enhydris jagori (Peter, 1863)
Hypsirhina jagorii Gunther, 1864
Hypsirhina smithi Boulenger, 1914
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con cái có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 445 – 515 mm. Đuôi 93 mm. Con đực có tổng chiều dài 471 mm, trong đó dài đuôi 118 mm. Đầu dài, rộng hơn cổ. Đầu hóp. Mắt khá lớn. Vảy mõm năm cạnh, dài gấp hai lần cao. Vảy mũi bán phân chia, chạm vảy môi thứ nhất. Vảy gian mũi đơn hoặc phân chia, nối với vảy má. Vảy trước trán chạm vảy má, vảy trước mắt và vảy trên mắt. Vảy trán hơi dài hơn vảy chẩm. Vảy trên mắt hình chữ nhật, mép sau rộng hơn mép trước. vảy má nối với vảy môi trên 1 – 3. Vảy trước mắt đon và cao, mép phía lưng hẹp hơn mép phía bụng. Có 2 vảy sau mắt và vảy trên cao hơn vảy dưới. Công thức vảy thái dương 1+2, trong đó vảy đầu tiên cao hơn rộng. Vảy môi trên 8 hoặc 9, trong đó cao nhất là vảy thứ sáu hoặc bảy, vảy thứ tư chạm mắt và cũng lớn nhất. Vảy môi dưới 10 hoặc 11, trong đó lớn nhất là vảy thứ sáu hoặc bảy. Vảy thứ nhất đến thứ tư hoặc thứ năm chạm các tấm vảy cằm phía trước. Các tấm vảy cằm phía trước dài hơn cặp tấm vảy sau và chúng hình ngũ giác hoặc loe ra. Cột cặp vảy nhỏ tách biệt các tấm vảy sau với nhau. Vảy họng 9 – 10. Vảy gáy 23 – 25 hàng. Vảy giữa lưng 21 hàng. Các hàng vảy ở phía thân sau giảm đến 19 – 20 hàng. Không có hoa văn vảy. Đuôi hóp. Vảy bụng 117 – 122 ở con cái, 117 – 127 ở con đực. Các vảy bụng tròn, rộng, cao gấp 3 lần vảy lưng bên cạnh. Vảy huyệt chia đôi và hơi dài hơn vảy bụng. Vảy dưới đuôi phân đôi, 48 – 54 ở con cái, 53 – 68 ở con đực. Vảy mặt trên của đuôi mịn, xếp thành 12 – 13 hàng.
Màu sắc trong tự nhiên: Đầu đều màu xám nhạt hoặc xanh ô lưu. Môi có thể có đốm vàng. Có khoảng 38 đốm xương sống trên các hàng vảy 10 – 14. Đốm trên các hàng vảy 1 – 8 và 1 – 9 hình thành dãy các vệt mặt bên thân. Vệt này có độ rộng chiếm 2 – 3 hàng vảy. Thỉnh thoảng dãy xương sống có lẫn các đốm trên hàng 8 – 9 hình thành sọc. Có khoảng 38 vệt rộng bằng 2 – 3 hàng vảy. Vệt mặt bên tách nhau vởi sọc trắng và vàng nhỏ hơn độ rộng một hàng vảy. Những sọc trắng hoặc vàng này chạy lên bụng bao tròn thân hình thành vòng tròn trắng hoặc vàng.
Enhydris jagori khác các loài cùng Giống Enhydris khác ở những đặc điểm sau
Khác với loài Enhydris innominata bởi số vảy bụng (117 – 127 so với 108 – 117), hoa văn hình con sò mọc lên từ mặt bên bụng và trải rộng lên lưng.
Khá với loài Enhydris chanardi nhưng khác bởi Enhydris chanardi không có hoa văn đen hình vỏ sò và không có sọc hình zíc zắc ở méo các vảy bụng. Hàng vảy đầu tiên có màu thâm và đốm ở hai bên. Vảy bụng 110 – 125
Loài này rất giống với Enhydris subtaeniata nhưng khác bởi Enhydris subtaeniata có các tấm vảy cằm thon dài (2 hoặc 3 cặp), một hoa văn sọc ở hàng vảy 1 – 3, đốm lưng thâm trên hàng các hàng vảy trên sọc và vảy bụng 136 – 153.
Khác với loài Enhydris enhydris bởi hoa văn vệt dạng vỏ sò màu đen (so với có hoa văn sọc dọc), tấm vảy cằm khác nhau và số lượng vảy bụng cũng khác
Khác với loài Enhydris longicauda và Enhydris innominata bởi có 117 – 127 vảy bụng (so với 124 – 135).
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu của loài này là cá, ếch nhái. Loài rắn hoạt động ban ngày này cư trú ở những con suối nước ngọt cạn, các kênh lạch, khu vực đất ngập nước, đầm lầy và hồ nước ngọt. Loài đẻ con trứng, đẻ ở dưới nước. Tên loài này được đặt cho nhà khoa học F. Jagor . Ông chuyên sưu tập mẫu bò sát của Thái Lan cho bảo tàng động vật Berlin Đức
Phân bố:
Trong nước: Loài này được cho là không có vùng phân bố ở Việt Nam. Nhưng các mẫu thu được ở Kontum, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Sóc Trăng, Cà Mau đã được ghi nhận.
Nước ngoài: Có khá nhiều ở Thái Lan, Lào, Cambodia,
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm đen đốm vàng
Tên tiếng Anh:Common nawab
Tên Latin:Polyura athamas
Bướm lang thang
Tên tiếng Anh:Indian wanderer
Tên Latin:Pareronia hippia
Rắn hổ đất nâu
Tên tiếng Anh:Common mock viper
Tên Latin:Psammodynastes pulverulentus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae