TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn bông súng

Tên tiếng Anh: Rainbow mud snake
Tên Latin: Enhydris enhydris
Đồng danh: Hydrus enhydris Schneider, 1799
Đồng danh: Homalopsis enhydris Cantor, 1847
Đồng danh: Hypsirhina enhydris Dumeril & Bibron, 1854
Đồng danh: Enhydris caerulea Latreille in Sonnini & Latreille, 1801
Tên khác: Rắn nước cầu vồng
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN BÔNG SÚNG

Enhydris enhydris (Schneider, 1799)
Hydrus enhydris Schneider, 1799
Homalopsis enhydris Cantor, 1847
Hypsirhina enhydris Dumeril & Bibron, 1854
Enhydris caerulea Latreille in Sonnini & Latreille, 1801
 Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Đầu hơi dẹt, phân biệt với cổ. Lỗ mũi có nếp da che, nằm ở phía trên đầu, đuôi ngắn. Tấm mũi chạm nhau, tấm đỉnh phát triển (dài hơn rộng 1,6 lần), tấm trán dài gấp 2 lần rộng. Mắt nhỏ, lỗ mắt tròn, đường kính mắt 1,9mm bằng 0,18 lần chiều dài đầu, bằng 0,57 lần khoảng cách từ mõm tới trước mắt. Có 8 tấm môi trên, tấm thứ 3 tiếp giáp với mắt. 7 tấm môi dưới, cặp đầu tiên tiếp xúc với tấm sau cằm, tấm 3 và 4 tiếp xúc với tấm sau cằm. Có 2 tấm trước trán cách với hai tấm mũi bởi một tấm hình thoi, phía bên tiếp xúc tấm má. Vảy quanh thân 27:21:19, vảy xếp hình mái lợp. Hàng vảy thân thứ nhất gần vảy bụng có màu trắng, tiếp đến hàng vảy thân thứ 2 có màu nâu nhạt xếp nối với nhau tạo thành 2 sọc nâu ở hai bên lưng, vảy thứ 3 có 1/2 vảy màu đen ở phía thân, 1/2 có màu trắng ở phía bụng, vảy lưng màu xám nâu, tạo cho cơ thể có màu nâu ở mặt lưng. Tấm thái dương 1+2+3. Có 150 – 177 vảy bụng, mỗi vảy bụng có 1 chấm đen nối với nhau tạo thành 1 sọc màu đen ở giữa chạy dài mặt bụng cơ thể từ đầu đến huyệt. Tấm huyệt chia, vảy dưới đuôi kép.
Rắn bông súng có chiều dài tương đối nhỏ. Rắn cái có chiều dài thân trung bình là 547,93 ± 8,38 mm, lớn hơn rắn đực với chiều dài thân trung bình là 523,93 ± 5,88 mm. Các đặc điểm khác về hình thái như rộng đầu, đường kính mắt thì rắn cái cũng lớn hơn rắn đực. Các đặc điểm về hình thái còn lại như dài đuôi, dài đuôi, dài đầu, dài đầu, gian mắt, gian mũi, mắt mõm thì rắn đực lớn hơn so với rắn cái. Rắn bông súng đực có khối lượng tinh hoàn trung bình là 0,23g. Trong đó tinh hoàn phải có khối lượng trung bình 0,11g, tinh hoàn trái là 0,12g. Chiều dài trung bình của tinh hoàn phải và tinh hoàn trái gần bằng nhau. Trong đó tinh hoàn phải và tinh hoàn trái đều có chiều dài nhỏ nhất là 6mm. Tinh hoàn phải có chiều dài lớn nhất là 10mm, còn tinh hoàn trái có chiều dài lớn nhất là 9mm. Chiều rộng trung bình của tinh hoàn phải lớn hơn chiều rộng trung bình của tinh hoàn trái.
Khối lượng trung bình buồng trứng phải và trái của rắn cái bằng nhau. Trong đó khối lượng lớn nhất của buồng trứng phải là 0,98g cao hơn khối lượng lớn nhất của buồng trứng trái là 0,43g, số lượng trứng lớn nhất của buồng trứng phải là 51 trứng thấp hơn buồng trứng trái. Đường kính trứng lớn nhất là 4mm, đường kính trứng nhỏ nhất là 2mm. Như vậy nhóm Rắn bông súng có bộ phận sinh sản bên phải phát triển hơn bên trái.Khối lượng trung bình buồng trứng phải và trái của rắn cái bằng nhau. Trong đó khối lượng lớn nhất của buồng trứng phải là 0,98g cao hơn khối lượng lớn nhất của buồng trứng trái là 0,43g, số lượng trứng lớn nhất của buồng trứng phải là 51 trứng thấp hơn buồng trứng trái. Đường kính trứng lớn nhất là 4mm, đường kính trứng nhỏ nhất là 2mm. Như vậy nhóm Rắn bông súng có bộ phận sinh sản bên phải phát triển hơn bên trái.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn của chúng chủ yếu là các loài cá sống trong khu vực phân bố. Là loài rắn đẻ con trứng, con cái mỗi lứa đẻ từ 4 – 18 con. Rắn con dài 14 cm giống rắn trưởng thành. Chúng là loài rắn hiền lành hoạt động ban ngày và được thấy ở những nơi nước ngọt đất trũng, ao hồ, đầm lầy.
Phân bố:
Trong nước: Từ Phú Yên trở vào đến Kiên Giang đều có loài này phân bố.
Nước ngoài: Hầu hết cư trú tại các vùng nhiệt đới phía Đông nam châu Á, bao gồm Indonesia (Bangka, Belitung, Java, Kalimantan, Sulawesi, Sumatra), Bangladesh, Campuchia, Ấn Độ (Telangana, Nagaland), Lào; Malaysia (Malaya và Đông Malaysia, Borneo, Pulau Tioman), Myanmar, Nepal; Bhutan, Pakistan, Sri Lanka; Pulau Bangka, Thái Lan..
Tình trạng:
Loài này còn khá phổ biến ở các tỉnh đồng bằng Nam bộ. Tuy nhiên hiện nay việc khai thác đánh bắt quá mức và thiếu kiểm soát về quản lý môi trường sống của loài này sẽ ảnh hưởng đến số lượng.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae