TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Rushen

Rắn bồng mê kông

Tên tiếng Anh: Mekong mud snake
Tên Latin: Enhydris subtaeniata
Đồng danh: Hypsirhina enhydris subtoeniata Bourret, 1934
Đồng danh: Hypsirhina enhydris subtoeniata Bourret, 1934
Đồng danh: Hypsirhina enhydris subtoeniata Bourret, 1934
Đồng danh: Hypsirhina enhydris subtoeniata Bourret, 1934
Tên khác: rắn bùn mê kông
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN BỒNG MÊ KÔNG

Enhydris subtaeniata (Bourret, 1934)
Hypsirhina enhydris subtoeniata Bourret, 1934
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài rắn có kích thước trung bình, dài 90cm. Đầu hẹp hơn cổ. 21 hàng vảy có gờ giữa thân. Có 2 – 3 tấm vảy cằm dài hơn rộng, 2 tấm đầu tiên dài hơn tấm thứ hai. 136 – 153 vảy bụng Thân màu nâu hoặc xám. Màu trên dọc xương sống đậm hơn màu ở hai bên thân. Có các vết đen mờ trên trên thân. Có kẻ sọc màu đỏ hoặc hồng ở phần thấp nhất ở hai bên thân ngay bên dưới cái vết thâm mặt bên. Một số mẫu còn có sọc đỏ giữa các vết thâm bên lưng và vết thâm mặt bên. Bụng màu kem, đôi khi có một phần đường zic-zắc ở mỗi bên.
Sinh học, sinh thái:
Loài hoạt động, kiếm ăn ban đêm ở các khu vực cửa sông giáp biển và các vùng bán ngập mặn. Nhưng chúng chỉ sống trong các khu vực nước ngọt hoặc nước lợ có độ mặn thấp. Thức ăn là những loài cá, tôm, giáp xác và ếch nhái. Đẻ con trừng, mỗi lứa đẻ từ 6 – 30 con, rắn con dài 8 – 13cm có màu giống như rắn trưởng thành. Tên loài được đặt theo tiếng Latin “sub” (= dưới) và “taenia” (= rải băng), chỉ hoa văn sọc trên bụng của chúng.
Phân bố:
Trong nước: Phố biến nhất là vùng đồng bằng miền Tây Nam bộ thuộc các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau.
Nước ngoài: Loài này có mặt trên khắp vùng cửa sông, rừng ngập mặn vùng Đông nam châu Á như Thái Lan, Lào, Cambodia.
Tình trạng:
Số lượng còn khá phổ biến ngoài tự nhiên, nhưng hiện cũng đang bị săn bắt nhoiều để làm thực ăn nên số lượng loài giảm sút. Sinh cảnh sống của chúng là rừng ngập mặn, cửa sông cũng đang bị tàn phá để nuôi trồng thủy sản.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae