TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn bồng không tên

Tên tiếng Anh: Tayninh mud snake
Tên Latin: Enhydris innominata
Đồng danh: Hypsirhina innominata Morice, 1875
Đồng danh: Hypsirhina innominata Morice, 1875
Đồng danh: Hypsirhina innominata Morice, 1875
Đồng danh: Hypsirhina innominata Morice, 1875
Tên khác: Rắn bồng tây ninh
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN BỒNG KHÔNG TÊN

Enhydris innominata (Morice, 1875)
Hypsirhina innominata Morice, 1875
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Rắn có kích thước trung bình. Dài thân 52 – 58cm. Số lượng vảy bụng rất ít (106 – 117), Có 42 – 56 vảy dưới đuôi, hoa văn đặc trưng của các đốm đen bên (hình vỏ sò) ở cả mặt lưng và mặt bụng. Gờ sống lưng rất rõ, chạy dài từ gáy đến mút đuôi. Mõm tròn rộng và đầu của loài rắn đẹp này không khác biệt nhiều lắm so với thân.
Những đặc điểm này phân biệt loài rắn này với hầu hết các loài Enhydris khác:
Khác với Enhydris jagorii ở số lượng vảy bụng nhiều hơn (117 – 127) và vảy thái dương nhỏ hơn.
Khác với Enhydris longicauda có nhiều vảy bụng hơn (122 – 136) và nhiều vảy dưới đuôi hơn (52 – 76) so với loài innominata.
Khác với Enhydris chanardi có số lượng vảy bụng nhiều hơn (110 – 125), các đốm nhỏ ở lưng bên bao gồm hai hoặc ba vảy; và vảy thái dương lớn hơn, hình tấm.
Khác với Enhydris enhydrisEnhydris subtaeniata có các sọc trong hoa văn của chúng và vảy lưng trơn, có vân và tấm chắn cằm trước dài. Loài này có vảy trơn không có vân.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài hoạt động cả ngày lẫn đêm, thức ăn là các loài cá và ếch nhái sống trong khu vực phân bố. Đẻ con trứng, mỗi lứa đẻ từ 6 – 30 con, rắn con dài 8 – 13 cm có màu giống như rắn truởng thành. Loài rắn này thường bắt gặp ở vùng ao, hố, đầm lầy nước ngọt, ở khu vực đất thấp, rừng ngập nước theo mùa. Loài này được đặt tên theo nghĩa Latin “innominata”, có nghĩa là không tên.
Phân bố:
Trong nước: Chỉ mới ghi nhận tìm thấy ở Tây Ninh, Long An, Bình Phước, Bình Dương phía Nam Việt Nam
Nước ngoài: Đã ghi nhận chính xác ở Cambodia và nghi ngờ có phân bố ở Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng còn rất ít và hiếm gặp ngoài tự nhiên.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae