Rắn bồng đắc nông
| Tên tiếng Anh: | Dak Krong mud snake |
|---|---|
| Tên Latin: | Myrrophis dakkrongensis |
| Đồng danh: | Myrrophis dakkrongensis Nguyen et al., 2024 |
| Đồng danh: | Myrrophis dakkrongensis Nguyen et al., 2024 |
| Đồng danh: | Myrrophis dakkrongensis Nguyen et al., 2024 |
| Đồng danh: | Myrrophis dakkrongensis Nguyen et al., 2024 |
| Tên khác: | Rắn bồng tây nguyên |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Ăn các loài lưỡng cư và gặm nhấm nhỏ Bò sát đẻ con trứng
RẮN BỒNG DAKRONG
Myrrophis dakkrongensis Nguyen et al., 2024
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con đực trưởng thành. Đầu hình bầu dục nhìn tử trên xuống, phân biệt với cổ. Thân ngắn, hình trụ. Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 372mm, dài đuôi 70mm. Mắt nhỏ, con ngươi hình bầu dục đến tròn, nằm dọc, nằm ở mặt lưng bên của đầu. Mũi hướng lên. Vảy đầu mịn, hơi gối lên nhau. Vảy mõm rộng hơn cao (rộng 2.6mm, cao 1.8mm), có thể thấy ở mức độ hẹp khi nhìn từ trên xuống, chạm các vảy mũi và vảy môi trên thứ nhất ở mỗi bên. Các vảy mũi nở rộng, gần hình ngữ giác, nối rộng với nhau phía sau vảy mõm. Đường kẽ vảy mũi mặt bên chìm sâu và chạy đến vảy môi đầu tiên, đường kẽ vảy mũi phía sau và trải dài đến vảy gian mũi. Vảy gian mũi 1, hình thoi, rộng hơn dài (rộng 2.5mm, dài 2.1mm), không nối với các vảy má.
Các vảy trước trán hình thành rãnh giữa, nối rộng với các vảy mũi. Vảy trán thon dài, hình tấm, hầu như dài gấp hai rộng (rộng 2.6mm, dài 5mm), gần như dài bằng khoảng cách từ mút mõm và ngắn hơn các vảy chẩm. Các vảy chẩm nối với nhau phía sau vảy trán, mỗi vảy được bao quanh mặt bên bởi các vảy thái dương trên và phía sau bởi vảy trán, vảy trên mắt và vảy trên sau mắt. Vảy má 1, dài hơn cao và nối với 3 vảy môi trên đầu tiên. Vảy trước mắt 1/1. Vảy sau mắt 2/2, vảy trên cao hơn dài, vảy dưới dài hơn cao. Vảy trước thái dương 1/1, vảy sau thái dương 2/2, vảy thái dương thứ ba 2/3. Vảy môi trên 8/8, trong đó vảy thứ tư chạm mắt, vảy thứ 4 đến thứ 7 dài nhất, vảy thứ 8 nhỏ nhất. Vảy môi dưới 11/11, cặp đầu tiên nối giữa với nhau, bốn vảy đầu nối với tấm vảy cằm phía trước, vảy thứ 4 và 5 nối với tấm vảy cằm phía sau, vảy thứ 6 lớn nhất. Các tấm vảy cằm phía trước dài hơn và rộng hơn các tấm vảy cằm phía sau (dài 3.9mm so với 2.5mm, rộng 1.8mm so với 1.1mm), cặp phía trước nối với nhau. Cặp phía sau nhỏ, xiên, tách nhau bởi 2 vảy nhỏ và nối với 2 vảy môi dưới. 6 vảy họng và 2 vảy trước bụng giữa tấm vảy cằm phía trước và vảy bụng đầu tiên Vảy lưng mịn, xếp thành 27 hàng ở vảy bụng đầu tiênc, 23 hàng ở chiều dài một cái đầu phía sau đầu, 23 hàng ở giữa thân, 20 hàng ở chiều dài một cái đầu trước huyệt và 19 hàng ở vảy bụng thứ ba đến huyệt. Hàng vảy xương sống cùng kích thước và hình dạng với các vảy lưng. Hàng vảy lưng giảm từ 23 xuống 21 ở các vảy bụng 87 – 92 bởi sự hoà lẫn của các hàng vảy thứ tư và năm ở mỗi bên thân, và từ 21 xuống 19 hàng ở các vảy bụng 122 – 126. Vảy bụng 134 vảy (+ 2 vảy trước bụng), rộng, không có gờ.
Tấm vảy huyệt chia đôi. Có 3 nốt sần dạng tuyến ở các mặt bên của bùng lỗ huyệt. Vảy dưới duôi 42, tất cả phân chia. Vảy chót đuôi hình thành một mũi nhọn. Răng hàm trên 17, hình thành một nhóm tách bởi khe hở nhỏ. Nhóm phía trước có 15 răng, hướng mạnh ra sau, nhóm phía sau có hai rằng rãnh. Cơ quan sinh dục ngắn và có gai, trải dài đến vảy dưới đuôi thứ 8 và đan chéo ở vảy dưới đuôi thứ tư, có 3 vùng rõ rệt. Phần đáy trần trụi, phần giữa có gai cong nở rộng, và phần cuối có 2 thuỳ phát sinh nhỏ và gai cùn. Rãnh dẫn tinh lồi và chia ra hai thuỳ Trong tự nhiên, lưng và các phần bên thân và đuôi màu nâu sẫm. Một sọc bên bụng vàng rõ đến cam chạy từ cổ đến vùng huyệt, hình thành bởi nửa trên của dãy vảy lưng đầu tiên, dãy vảy lưng thứ hai và nửa dưới của hàng vảy lưng thứ ba. Bụng màu kem đến vàng, có ba sọc dọc nâu sẫm, trong đó hai sọc ngoài ở nửa dưới của hàng vảy lưng đầu tiên và mép ngoài của vảy bụng. Sọc giữa ở trung tâm bụng
Loài Rắn bồng đắc nông Myrrophis dakkrongensis khác các loài cùng Giống Myrrophis bởi những đặc điểm sau:
Khác với Rắn bồng ben nét Myrrophis bennettii bởi có nhiều hàng vảy lưng ở giữa thân hơn (23 so với 21), nhiều hàng vảy lưng trước huyệt hơn (19 hoặc 20 so với 17 hoặc 15), ít vảy bụng hơn (133 – 138 so với 158 – 169) và ít vảy dưới đuôi hơn (34 – 42 so với 45 – 56)
Khác với Rắn bồng trung quốc Myrrophis chinensis bởi có nhiều răng hàm trên hơn (15 hoặc 16+2 so với 12 hoặc 13+2), cặp tấm vảy cằm thứ hai nhỏ, xiên và nối với hai vảy môi dưới (so với lớn, dọc dài và nối với 3 – 4 vảy môi dưới), không có hoa văn lưng (so với lưng có đốm đen xếp thành dãy dọc và xu hướng tập trung dọc giữa lưng và trên mỗi mặt của thân).
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài hoạt động suốt ngày đêm, ăn cá và ếch nhái. Là loài đẻ con trứng, mỗi lứa đẻ từ 6 – 30 con, rắn con dài 8 – 13 cm có màu giống như rắn trưởng thành. Loài rắn này thường bắt gặp ở vùng ao, hố, đầm lầy nước ngọt ở độ cao đến 900m.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới được các nhà nghiên cứu Viện sinh học nhiệt đới miền Nam phát hiện năm 2024 ở Quảng Sơn, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông, Việt Nam, ở tọa độ 12°10′24′′B, 107°46′36′′Đ; độ cao 890 m so với mực nước biển. Tên loài được đặt theo vùng phân bố loài mới phát hiện.
Nước ngoài: Chưa có ghi nhận.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm cỏ cánh sau đỏ
Tên tiếng Anh:Red rierrot
Tên Latin:Talicada nyseus
Cu li nhỡ
Tên tiếng Anh:Northern pygmy slow loris
Tên Latin:Xanthonycticebus intermedius
Móng bò đỏ
Tên tiếng Anh:Orchid tree
Tên Latin:Bauhinia purpurea
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae