TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rắn bồng chì

Tên tiếng Anh: Rice paddy snake
Tên Latin: Enhydris plumbea
Đồng danh: Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)
Đồng danh: Homalopsis plumbea Boie, 1827
Đồng danh: Hypsirhina hardwickii Gray, 1834
Đồng danh: Hypsiscopus plumbeus Geissler et al., 2019
Tên khác: Rắn ruộng lúa nước
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RẮN BỒNG CHÌ

Enhydris plumbea (Boie, 1827)
Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)
Homalopsis plumbea Boie, 1827
Hypsirhina hardwickii Gray, 1834
Hypsiscopus plumbeus Geissler et al., 2019
Họ: Rắn nước Colubridae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài cơ thể khoảng 56 cm. Vảy mõm rộng hơn cao. Vảy mũi chạm đến vảy môi trên thứ nhất và hai. Vảy gian mũi 1, không chạm vảy thái dương. Vảy môi trên 8, trong đó vảy thứ tư hoặc thứ tư và thứ năm chạm mắt. Vảy má đơn, chạm các vảy môi trên từ thứ 2 – 3 hoặc 2 – 4. Vảy trước mắt 1. Vảy sau mắt 2. Vảy thái dương 1+2. Vảy môi dưới 4 hoặc 5, nối với tấm vảy cằm. Vảy lưng mượt xếp thành 19 hàng. Vảy bụng 119 – 142. Vảy huyệt phân chia. Vảy dưới đuôi 22 – 45, không phân chia. Đầu rộng hơn cổ. Mõm tròn. Đỉnh đầu cùng màu với lưng. Màu môi trên giống bụng. Mắt có con ngươi dọc, bầu dục. Thân mập được phủ bởi vảy mịn hình thoi. Lưng màu nâu ô lưu, xám hoặc xanh lá cây có mép nâu đen trên viền vảy. Ba hàng vảy lưng đầu tiên màu vàng đều nhau ở con non và viền vảy chuyển sang đen xám ở con trưởng thành. Bụng trắng vàng, có đốm đen dọc giữa. Đuôi ngắn và chót nhọn. Màu giống lưng, Mặt dưới đuôi màu giống bụng. Dài 35 – 45 cm, hiếm khi tới 60 cm. Thân hình trụ hay hình bầu dục, ngắn và to chắc, vảy trơn láng, có màu ôliu xám nhạt hay xám lam về phía trên và chuyển đột ngột sang màu vàng ở phía dưới về phía hông. Mặt trên bụng trắng đục hoặc vàng nhạt có những chấm tròn đen ở giữa; phía dưới đuôi có một đường đen ngay giữa. Mõm tròn rộng và đầu của loài rắn đẹp này không khác biệt nhiều lắm so với thân.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài hoạt động suốt ngày đêm, ăn cá và ếch nhái. Là loài đẻ con trứng, mỗi lứa đẻ từ 6 – 30 con, rắn con dài 8 – 13cm có màu giống như rắn truởng thành. Loài rắn này thường bắt gặp ở vùng ao, hố, đầm lầy nước ngọt, còn gặp ở độ cao tới 1.200m.
Phân bố:
Trong nước: Từ Bắc tới Nam và phố biến nhất là vùng đồng bằng Nam bộ
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Campuchia, Indonesia (Bali, Bangka, Belitung, Java, Kalimantan/Borneo, Sulawesi, Sumatra); Lào, Malaysia (Malaya và Đông Malaysia, Pulau Tioman), Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng còn khá phổ biến ngoài tự nhiên. Tuy nhiên hiện đang bị săn bắt rát nhiều để làm thực phẩm nên số lượng loài trong tự nhiên bị giảm sút rất nhiều. Cần có biện pháp nhân nuôi và giáo dục ý thức người dân bảo tồn.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Thiên Tạo. – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae