TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rái cá vuốt bé

Tên tiếng Anh: Asian small-clawed otter
Tên Latin: Aonyx cinerea
Đồng danh: Amblonyx cinerea (Rafinesque, 1832)
Đồng danh: Amblonyx cinerea fulvus Pohle, 1920
Đồng danh: Aonyx barang Lesson, 1842
Đồng danh: Aonyx horsfieldii Gray, 1843
Tên khác: Rái cá chân chó
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÁI CÁ VUỐT BÉ

Aonyx cinerea (Illiger, 1815)
Amblonyx cinerea (Rafinesque, 1832)
Amblonyx cinerea fulvus Pohle, 1920
Aonyx barang Lesson, 1842
Aonyx horsfieldii Gray, 1843
Họ: Chồn Mustelidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Rái cá vuốt bé có thân hình ngắn, chắc hơn các loài rái cá khác. Màng bơi không phủ hết ngón chân và có phủ lông. Tai có nắp che lỗ tai. Bộ lông mầu nâu nhạt hoặc xám nâu, phần bụng mầu sáng hơn. Đặc điểm nổi bật là vuốt chân nhỏ, không thò ra khỏi ngón.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn của Rái cá vuốt bé chủ yếu là các loài cua, ốc, côn trùng, sau mới đến ăn cá. Vùng sống và hoạt động gắn liền với các thuỷ vực, dọc bờ biển ở những nơi có rừng ngập mặn, ngập nước ngọt, nước lợ, dọc suối, hồ đầm. Rái cá vuốt bé hoạt động về đêm, đôi khi gặp cả ban ngày; sống theo đàn, mỗi đàn 3 – 8 con hoặc nhiều hơn. Mỗi năm đẻ 1 – 2 lứa, mỗi lứa 2 – 3 con. Cả bố và mẹ cùng chăm sóc con non.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Lào Cai (Hoàng Liên), Cao Bằng (Phia Oắc – Phia Đén), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Quảng Ninh (Đầm Hà, Vịnh Hạ Long), Hải Phòng (Cát Bà), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thanh Hoá (Xuân Liên, Bến En), Nghệ An (Pù Mát, Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng, Đồng Châu – Khe Nước Trong), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăkrông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền), Quảng Nam (Sông Thanh), Kon Tum (Kon Plông), Gia Lai (Kon Ka Kinh, Kon Chư Răng), Đăk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin, Ea Sô, Nam Ka, Krông Buk), Đắk Nông (Tà Đùng), Lâm Đồng (Bidoup – Núi Bà), Bình Thuận, Đồng Nai (Vĩnh Cửu, Cát Tiên), Bình Phước (Bù Gia Mập), Bà Rịa – Vũng Tàu (Bình Châu – Phước Bửu), Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Hậu Giang, Đồng Tháp (Tràm Chim), Sóc Trăng, Bạc Liêu (Vĩnh Hậu), Kiên Giang (Phú Quốc, U Minh Thượng), Cà Mau (U Minh Hạ, Mũi Cà Mau).
Nước ngoài: Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc (gồm cả đảo Hải Nam, Đài Loan), Myanmar, Lào, Malaysia, Indonesia, Philippines.
Giá trị:
Có gia trị về mặt nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể động vật thuỷ sinh trong tự nhiên. Có thể nuôi làm cảnh ở công viên nước, vườn thú.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam nhưng rất hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán làm sinh vật cảnh. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 50% trong 30 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae