TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rái cá thường

Tên tiếng Anh: Eurasian otter
Tên Latin: Lutra lutra
Đồng danh: Mustela lutra Lin,1758
Đồng danh: Lutra amurensis Dybowski, 1922
Đồng danh: Lutra fluviatilis Leach, 1816
Đồng danh: Lutra fluviatilis Leach, 1816
Tên khác: Rái cá chân vịt
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÁI CÁ THƯỜNG

Lutra lutra (Linnaeus, 1758)
Mustela lutra Lin,1758
Lutra amurensis Dybowski, 1922
Lutra fluviatilis Leach, 1816
Lutra marinus Billberg, 1827
Họ: Chồn Mustelidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Rái cá thường có thân hình dài, mềm dẻo. Mõm ngắn, đầu hơi dẹp bề ngang. Có màng bơi da trần phủ hết ngón. Vuốt ngòn chân dài thò ra khỏi ngón nhưng ngắn và tù. Tai nhỏ, vành tai tròn có nắp che lỗ tai. Bộ lông màu xám đến nâu hung đốm hoa râm, hơi thô; phần bụng màu xám tro, họng và má phớt trắng. Lông đệm dày không thấm nước. Dài đuôi xấp xỉ nửa dài thân, đuôi dài tròn đều nhỏ dần từ gốc đến mút đuôi. Da mũi trần có viền hình chiếc đe.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu gồm cá, sau đến cua, ốc và một số động vật thủy sinh khác. Vùng sống và hoạt động gắn liền với các thuỷ vực (bờ biển, sông ngòi, đầm hồ, khe suối, ao) chủ yếu ở các vùng rừng núi. Rái cá thường kiếm ăn ở các vực nước trong. Rái cá đào hang làm tổ ở bờ các thuỷ vực kể trên, trong các hốc đá, hố cây hoặc sử dụng các hang đá có sẵn. ở các vùng thuỷ triều chúng hoạt động theo con nước, lúc nước lên. Vì vậy, chúng có thể hoạt động cả ban ngày nếu không bị uy hiếp. Rái cá sống theo gia đình, mỗi đàn 3 – 5 con. Nhưng khi kiếm ăn chúng có thể tập trung thành đàn trên dưới 10 – 12 con. Rái cá thường đẻ tập trung vào các tháng 2 – 4 hàng năm, mang thai khoảng 61 ngày, đẻ con trong các hốc cây, hoặc hang đất, đá, mỗi lứa 2 – 4 con. Rái cá mẹ chăm sóc con khoảng 2 – 3 tháng, rái cá con sống với bố mẹ cho đến khi gần thành thục hoàn toàn.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Yên Bái, Phú Thọ (Xuân Sơn), Cao Bằng (Phia Oắc), Bắc Kạn (Ba Bể), Thái Nguyên (Thần Sa), Hoà Bình, Lạng Sơn (Hữu Liên), Quảng Ninh (Bái Tử Long, Hạ Long), Thanh Hoá (Bến En), Nghệ An (Pù Mát), Quảng Trị (Bắc Hướng Hoá, Đăk Rông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã), Quảng Nam (Trà My), Bình Định, Kon Tum (Ngọc Linh), Gia Lai, Đắk Lắk (Chư Yang Sin, Tà Đùng), Lâm Đồng (Cát Lộc)
Nước ngoài: Phân bố rộng ở châu Âu và châu Á, Đông nam Á.
Giá trị:
Có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể động vật, thực vật thuỷ sinh trong tự nhiên. Có thể chuyển một số cá thể về khu vực Vườn thú để nuôi làm cảnh phục vụ đời sống con người.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên nhưng rất hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán làm sinh vật cảnh. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 50% trong 30 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae