TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Rái cá lông mượt

Tên tiếng Anh: Smooth-coated otter
Tên Latin: Lutrogale perspicillata
Đồng danh: Lutra perspicillata I. Geoffroy Saint-Hilaire, 1826
Đồng danh: Lutrogale perspicillata (Geoffroy, Saint-Hilaire, 1826)
Đồng danh: Lutra perspicillata I. Geoffroy Saint-Hilaire, 1826
Đồng danh: Lutrogale perspicillata (Geoffroy, Saint-Hilaire, 1826)
Tên khác: Rái cá họng trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÁI CÁ LÔNG MƯỢT

Lutrogale perspicillata (Geoffroy, Saint-Hilaire, 1826)
Lutra perspicillata I. Geoffroy Saint-Hilaire, 1826
Họ: Chồn Mustelidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Rái cá lông mượt có thân hình dài mềm dẻo. Mõm ngắn hơi dẹp bề ngang, đầu tương đối tròn. Màng bơi da trần phủ hết ngón. Vuốt dài, sắc. Tai lớn hơn tai rái cá thường, vành tai tròn, có nắp che lỗ tai. Bộ lông mầu xám đến nâu hung, gần giống rái cá thường nhưng lông dài và mịn mượt hơn. Môi trên, má, họng và cổ mầu trắng sữa; phần trắng này kéo đến ngực. Lông bụng mầu sáng hơn trên lưng. Đặc điểm nổi bật khác với các loài rái cá khác là đuôi dẹp ra hai bên dáng mái chèo.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là cá, sau đến các loài khác như cua, ốc, ếch nhái, lưỡng cư… Vùng sống và hoạt động gắn liền với các thuỷ vực: bờ biển, sông ngòi, khe suối, có thể chỉ ở các vùng nước trong và chảy. Rái cá lông mượt đào hang làm tổ ở các hốc cây, hốc đá. Chúng hoạt động cả đêm và ngày, sống theo đàn, mỗi tổ 3- 5 con; lúc kiếm ăn có thể quy tụ thành đàn lớn 7 – 10 con. Khi bơi chân áp sát thân, dùng đuôi để bơi như mái chèo. Nghiên cứu về sinh sản còn ít, thời gian mang thai khoảng 63 ngày, mỗi lứa đẻ 2-3 con. Con sơ sinh yếu và chưa mở mắt.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long), Nghệ An (Pù Mát), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã) Bình Định, Đắk Lắk (Ea Sô, Yok Đôn), Lâm Đồng (Cát Lộc), Bình Phước (Bù Gia Mập), Trà Vinh (Duyên Hải), Đồng Nai (Cát Tiên), Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Hậu Giang, Kiên Giang (U Minh Thượng), Bạc Liêu.
Nước ngoài: Apganistan, Bangladesh, Iraq, Trung Quốc, Indonesia (Sumatra, Java, Borneo), Malaysia, Singapor, Nepal, Pakistan, Thái Lan.
Giá trị:
Có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể động vật thuỷ sinh giúp cân bằng sinh thái cá thể loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố rộng từ miền Bắc vào miền Nam nhưng rất hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán làm sinh vật cảnh. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 50% trong 30 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae