TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Rái cá lông mũi

Tên tiếng Anh: Hairy-nosed otter
Tên Latin: Lutra sumatrana
Đồng danh: Barangia sumatrana Gray,1865
Đồng danh: Lutra brunnea Pohle, 1920
Đồng danh: Lutra lovii Gunther, 1877
Đồng danh: Lutra sumatrana (Gray, 1865)
Tên khác: Rái cá sumatra
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

RÁI CÁ LÔNG MŨI

Lutra sumatrana (Gray, 1865)
Barangia sumatrana Gray,1865
Lutra brunnea Pohle, 1920
Lutra lovii Gunther, 1877
Họ: Chồn Mustelidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Rái cá lông mũi có thân hình dài, mềm dẻo. Màng bơi da trần phủ hết ngón. Tai có nắp che lỗ tai. Bộ lông mầu nâu sẫm, sẫm đen; phần dưới thân, bên cổ và phần dưới Họ:ng mầu nâu ít khác biệt với mầu lưng. Môi dưới, cằm và trước họng mầu hơi trắng. Chóp đuôi thỉnh thoảng có đốm trắng. Đặc điểm nổi bật là da mũi có phủ lông. Vuốt thứ hai và thứ năm gần như bằng nhau về chiều dài; ngón thứ ba và thứ tư dài hơn ngón thứ hai và thứ năm. Vuốt rất phát triển (8 – 10 cm) nhọn, sắc.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là cá, sau đến các loài khác như cua, ốc, thằn lằn, rắn, ếch nhái,… Các mẫu vật rái cá lông mũi được sưu tầm tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu long trên các sinh cảnh rừng ngập nước: rừng tràm, rừng đước, sú vẹt, rừng dừa nước dọc bờ biển, sông lớn hoặc kênh rạch. Rái cá lông mũi sống thành đàn 2 – 4 con; mùa nước cạn (tháng 12 – 3) chúng thường tụ tập đàn lớn hơn 7 – 10 con. Rái cá đào hang làm tổ trong các bờ đất, ụ đất cao, cửa hang thường thông ngầm dưới nước. Chúng hoạt động vào sáng sớm, chiều tối và ban đêm. Sinh sản chưa được nghiên cứu. Tuy nhiên, ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng (Kiên Giang) đã gặp rái cá 1 – 2 tháng tuổi vào tháng 3/2000 (Nguyễn Xuân Đặng và cộng sự, 2000).
Phân bố:
Trong nước: Đã thu được mẫu vật ở Thừa Thiên – Huế, An Giang (Long Xuyên), Kiên Giang (U Minh Thượng), Cần Thơ, Cà Mau (Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, Thới Bình). Có thể hiện nay rái cá lông mũi chỉ phân bố ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Nước ngoài: Thái Lan, Indonesia (Sumatra, Borneo), Malaysia.
Giá trị:
Góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể động vật thuỷ sinh và có gía trị nghiên cứu khoa học, nuôi làm cảnh ở các công viên nước, vướn thú.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố ở một số tỉnh đồng bắng sông Cửu Long, rất hiếm gặp trong tự nhiên do bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán làm sinh vật cảnh. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do suy giảm diện tích rừng tự nhiên và khai thác lâm sản. Kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong 30 năm qua (tiêu chuẩn A2cd). Số lượng cá thể ước tính < 250 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể ước tính.
Phân hạngCR A2cd+D2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae