TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Quạ khoang

Tên tiếng Anh: Collared crow
Tên Latin: Corvus torquatus
Đồng danh: Corvus pectoralis Gould, 1836
Đồng danh: Corvus torquatus Lesson, 1831
Đồng danh: Corvus pectoralis Gould, 1836
Đồng danh: Corvus torquatus Lesson, 1831
Tên khác: Quạ khoang
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

QUẠ KHOANG

Corvus torquatus Lesson, 1831
Corvus pectoralis Gould, 1836
Họ: Quạ Corvidae
Bộ: Sẻ Passeriformes

Đặc điểm nhận dạng:
Chim trưởng thành khác với Quạ đen có vòng trắng ở cổ và ngực. Phía trên cổ vòng trắng này rộng tới lưng trên, nhìn ngang phần vai vòng trắng ôm lấy gốc cánh tạo thành hình chữ V. Toàn bộ phần lông còn lại của bộ lông mầu đen có ánh đỏ tím. Mắt, mỏ và giò đều đen.
Sinh học, sinh thái:
Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 – 7. Tổ hình cầu đặt trên các cành hay các ngọn cây cao tới 30 m trở lên (thường là các cây gạo, đa.). Có thể gặp một đôi hay nhiều đôi cùng làm tổ trên cùng một cây. Tổ làm khá công phu bằng các que và cành cây khô nhỏ ken lại kỹ thuật. Có que đường kính tới 1,5cm, dài 45cm. Trong tổ được lót bằng lớp mỏng lá cây khô và lông chim, vịt, gà. Mỗi lứa đẻ 3 – 4 trứng, vỏ màu trắng hơi đục. thời gian ấp là khoảng 20 – 22 ngày.
Thức ăn là ngoé, nhái, chuột, giun đất, côn trùng. Thời gian nuôi con sắp rời tổ thiếu thức ăn, Quạ khoang bắt cả gà, vịt con mới nở khi chăn thả ở ngoài đồng ruộng và thấy tha cả bắp ngô non ở bãi nương về ăn. Thay lông vào tháng 8 – 10 hàng năm.
Quạ khoang sống định cư, làm tổ ở cả vùng ven biển, cửa sông, đồng bằng, trung du và miền núi có độ cao đến 1.500 m (Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn) gần các nơi trồng trọt, dân cư sinh sống. Chúng thường kiếm ăn ở các khu vực gần đất ngập nước, bãi lầy, bãi triều sau nước rút. Chúng cũng kiếm ăn cùng với Quạ đen, Sáo mỏ ngà, vv. Là kẻ thù của các loài chim nhỏ, gia cầm lúc mới nở ít ngày.
Phân bố:
Trong nước: Từ Bắc bộ đến Trung trung Bộ.
Nước ngoài: Phía Đông Trung Quốc (đảo Hải Nam).
Giá trị:
Loài chim quý hiếm, có thể bắt chước tiếng nói của người và tiếng kêu của các loài động vật. Là loài chim chỉ thị điển hình về sự ô nhiễm môi trường.
Tình trạng:
Quạ khoang là loài chim định cư tương đối hiếm chỉ ghi nhận tại vùng Đông Bắc, gần đây chỉ ghi nhận tại huyện Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng); diện tích phạm vi phân bố ước tính < 5.000 km2, số địa điểm ghi nhận < 5, sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái; loài này có kích cỡ quần thể nhỏ và bị suy giảm do mất và suy thoái sinh cảnh sống, suy giảm nguồn thức ăn; ước tính kích cỡ quần thể < 2.500 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 250.
Phân hạng: EN B1ab(iii) + C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần điều tra quần thể loài tại Việt Nam; Xây dựng kế hoạch bảo tồn loài, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống trong vùng phân bố tự nhiên của loài; kiểm soát các hoạt động săn bắt trái pháp luật loài này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 310.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae