TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Pơ mu

Tên tiếng Anh: Fujian cypress
Tên Latin: Fokienia hodginsii
Đồng danh: Cupressus hodginsii Dunn, 1908
Đồng danh: Chamaecyparis hodginsii Dunn) Rushforth, 2007
Đồng danh: Cupressus hodginsii Dunn, 1908
Đồng danh: Chamaecyparis hodginsii Dunn) Rushforth, 2007
Tên khác: Mạy vạc

PƠ MU

Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry & Thomas, 1911
Cupressus hodginsii
Dunn, 1908
Chamaecyparis hodginsii (Dunn) Rushforth, 2007
Họ: Hoàng đàn Cupressaceae
Bộ: Hoàng đàn Cupressales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ lớn, có tán hình tháp, thường xanh, cao 25 – 30 m hay hơn, đường kính thân tới 1 m. Thân thẳng, không có bạnh gốc, cành phân ngang. Vỏ thân màu xám nâu, bong thành mảng khi non, sau nứt dọc, thơm. Lá hình vẩy xếp thành 4 dãy; ở cành non hoặc cành dinh dưỡng hai lá trong ngắn và hẹp hơn hai lá bên, dài đến 7 mm, rộng đến 4 mm, có đầu nhọn dựng đứng; ở cành già hay cành mang nón, lá nhỏ hơn (dưới 1 mm), có mũi nhọn cong vào trong. Nón đơn tính cùng gốc; nón đực hình trứng hay hình bầu dục, dài 1 cm, mọc ở nách lá; nón cái gần hình cầu, đường kính 1,6 – 2,2 cm, mọc ở đỉnh cành ngắn, khi chin tách thành 5 – 8 đôi vẩy màu nâu đỏ, hoá gỗ, hình khiên, đỉnh hình tam giác, lõm giữa và có mũi nhọn. Mỗi vẩy hữu thụ mang hai hạt với 2 cánh không bằng nhau.
Sinh học, sinh thái:
Quả chín vào tháng 5 – 6. Loài thuộc yếu tố Đông Á. Trung sinh và ưa sáng, không chịu được lửa rừng, trên đất granít hoặc đá vôi, ở độ cao khoảng 900 – 2400 m, mọc rải rác hoặc tạo hành rừng thuần loại hay đơn độc ở trên sườn hoặc đỉnh núi cùng với một số loài Thông khác như Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia), Thiết sam đông bắc (Tsuga chinensis), Thông tre (Podocarpus neriifolius) và một số loài cây lá rộng như Sồi (Quercus spp.),tái sinh từ hạt tốt.
Phân bố:
Trong nước: Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Đắk Lắk, Điện Biên, Gia Lai, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Khánh Hòa, Kontum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Thuận, Quảng Bình, Sơn La, Thanh Hóa, Yên Bái.
Nước ngoài: Nam Trung Quốc, trong đó có 2 tỉnh giáp với Việt Nam là Vân Nam và Quảng Đông và Bắc Lào.
Giá trị:
Loài cho gỗ quí, có giá trị thương mại lớn, dung trong xây dựng, trang trí nhà ở, đóng đồ gỗ cao cấp và làm hàng mỹ nghệ; trước đây người H’Mông thường dùng để lợp nhà và thưng vách vì dễ chẻ và chịu đựng được mưa nắng, không mối mọt. Than cho nhiệt lượng cao. Gỗ rễ dùng để chưng cất tinh dầu làm thuốc và hương liệu.
Tình trạng:
Pơ mu thường mọc rải rác, tập trung thành các đám nhỏ hoặc gần như thuần loài trên các dông núi đá vôi hoặc núi đất ở độ cao khoảng từ 900 – 2.100 m, có 19 tiểu quần thể gặp ở 19 tỉnh, nhưng do các quần thể này bị chia cắt mạnh và phân mảnh nghiêm trọng đã và đang bị khai thác và nơi sống bị xâm hại dẫn tới sự suy giảm liên tục > 50 % trong vòng 20 năm qua. Diện tích vùng cư trú (AOO) ước tính < 500 km2, sinh cảnh sống tiếp tục bị thu hẹp và suy thoái và tại mỗi điểm quan sát ghi nhận rất ít các thể trưởng thành
Phân hạng: EN A4acd; B2ab(ii,iii,v).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất Bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 225. –ID=3323

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae