TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ốc kim khôi

Tên tiếng Anh: Horned helmet
Tên Latin: Cassis cornuta
Đồng danh: Buccinum cornutum Linnaeus, 1758
Đồng danh: Cassis caputepuinum Roding, 1798
Đồng danh: Buccinum cornutum Linnaeus, 1758
Đồng danh: Cassis caputepuinum Roding, 1798
Tên khác: Ốc mũ sừng

ỐC KIM KHÔI

Cassis cornuta (Linnaeus, 1758)
Buccinum cornutum Linnaeus, 1758
Cassis caputepuinum Roding, 1798
Họ: Ốc kim khôi Cassidae
Bộ: Chân bụng giữa Caenogastropoda

Đặc điểm nhận dạng:
Là loài có kích thước tương đối lớn trong động vật thân mềm, vỏ dày, nặng, chiều cao đến 320 mm, mép trong và mép ngoài mở rộng rất giống mũ, trông như mũ của Đường Tăng nên người ta gọi là ốc kim khôi. Vỏ có 6 tầng, các tầng vỏ rộng rãi, khe rãnh nông. Ở mặt lưng của các tầng vỏ có một hàng mầu lồi dạng sừng to, đưới có hai hàng mấu to nữa. Trên phần xoắn của vỏ có nhiều u lồi dạbng cánh cung, toàn bộ mặt vỏ có rất nhiều những mầu ớn nhỏ hình thành dạng chạm trổ ô vuông. Vỏ màu xám, miệng vỏ hẹp dài, màu da cam, rất đẹp và óng ánh. Bên trong của mép ngoài có 6 – 7 răng, mép trong có nếp gấp dạng xương sườn. Rãnh trước hẹp, mút trước uốn cong lên phía lưng.
Sinh học, sinh thái:
Là loài động vật ưa tĩnh lặng, ban ngày thường bò vào cạnh các bụi rong để ẩn núp, hoạt động mạnh về ban đêm. Dùng chân khỏe vươn về phía trước, sau đó co mạnh làm cho toàn thân di động đi lên. Thức ăn là các loài cầu gai: Mespilia globulus, Tripneustes gratilla  Diademase tosum. Chúng dùng chân bắt giữ và bao lấy con cầu gai, cắm mõm vào thân cầu gai, có khi ăn cả vỏ có dính gai. Chúng không phải là loài ăn quanh năm nên vị trí của các sườn trên thân nói lên sự sinh trưởng của vỏ ở trạng thái nghỉ, còn phần giữa các sườn nói lên vỏ trong thời kỳ sinh trưởng. Sống ở đầm rạn nửa kín, đáy bằng, dòng chảy yếu, hoặc trên cát san hô đáy cứng của các vệt rạn. độ sâu 7 – 20 m.
Phân bố:
Trong nước: Vùng biển Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kiên Giang (Phú Quốc)..
Nước ngoài: Loài này xuất hiện ở Biển Đỏ, Ấn Độ Dương, ngoài khơi bờ biển phía nam châu Phi từ phía bắc KwaZulu-Natal đến Mozambique, cũng như ở Thái Bình Dương.
Giá trị sử dụng:
Là loài có giá trị kinh tế cao trong mỹ nghệ và sưu tập. Dùng trong kĩ nghệ khảm tranh và làm các mặt hàng mĩ nghệ khác. Là giáo cụ để cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về đa dạng loài sinh vật biển Việt Nam.
Tình trạng:
Loài này phân bố ở vùng biển một số tỉnh miền Trung trở vào phía Nam. Diện tích vùng cư trú của loài đang bị thu hẹp và suy thoái. Loài này bị săn bắt để làm đồ mỹ nghệ và thực phẩm. Mức độ suy giảm quần thể ước tính >50% trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Bảo vệ nơi sống của loài, cần được khoanh vùng để bảo vệ từng quần thể. Cấm săn bắt những cá thể còn non. Tuyệt đối cấm nổ mìn và khai thác san hô trong khu vực có loài này phân bố.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 378.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae