TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ô rô vảy

Tên tiếng Anh: Brown pricklenape
Tên Latin: Acanthosaura lepidogaster
Đồng danh: Goniocephalus lepidogaster Bourret, 1937
Đồng danh: Calotes lepidogaster Cuvier, 1829
Đồng danh: Acanthosaura quinquicarinata Fan., 1931
Đồng danh: Calotes brevipes Zhao & Adler, 1993
Tên khác: Ô rô gai gáy nâu
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

Ô RÔ VẢY

Acanthosaura lepidogaster Cuvier, 1829
Goniocephalus lepidogaster Bourret, 1937
Calotes lepidogaster Cuvier, 1829
Acanthosaura quinquicarinata Fan., 1931
Calotes brevipes Zhao & Adler, 1993
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Ô rô vảy có cơ thể dẹp bên. Sau cổ có một gai và lại có một gai ngắn ở gáy khoảng phía trên màng nhĩ. Các vảy lưng có kích thước không đồng đều. Mặt lưng có màu sẫm nhạt màu da đỏ hay nâu đen không đều chạy ngang lưng và bên chân ở một số các thể sau gáy có vệt xám hình thoi, thân có những vệt trắng mốc. Đuôi các những khúc xám xen kẽ các khúc sánh nhạt. Ô rô vảy có chiều dài thân khoảng 50 – 100 mm, đuôi khoảng 65 – 200 mm.
Sinh học, sinh thái:
Ô rô vảy chủ yếu ăn sâu bọ (cánh cứng, châu chấu, gián rừng, kiến, sâu non), ngoài ra chúng còn ăn cả giun, nhện ốc. Ô rô vảy đẻ trứng vào thời gian từ tháng 8 – 10 hàng năm, đẻ khoảng 10 – 20 trứng. Ô rô vảy phổ biến ở những vùng rừng núi trung du. Chúng sống trên các cây trong rừng, sa van hoặc nương bãi. Từ tháng 3, 4 – 10, 11, ô rô hoạt động kiếm ăn nhiều về ban ngày. Về mùa đông chúng trú rét trong các khe và hốc cây.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Thái, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Tây, Hòa Bình, Hà Nội, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai, Kontum, Lâm Đồng.
Nước ngoài: Nam Myanmar, Nam Trung Quốc (kể cả đảo Hải Nam), Bắc Thái Lan, Cambodia.
Giá trị:
Ô rô vảy có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện nay chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài. …
Tình trạng:
Hiện nay số lượng ô rô vảy giảm sút do thiếu chỗ ở thích hợp.  Do việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2007 – phần động vật – trang 193.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae