TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ổ kiến gai

Tên tiếng Anh: Thorny ant plant
Tên Latin: Myrmecodia tuberosa
Đồng danh: Lasiostoma tuberosum (Jack) Spreng., 1824
Đồng danh: Bantiala rubra Dauphinot, 1791
Đồng danh: Myrmecodia amboinensis Becc., 1884
Đồng danh: Myrmecodia vivipara Warb., (1894)
Tên khác: Bí kì nam gai
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

Ổ KIẾN GAI

Myrmecodia tuberosa Jack, 1823
Lasiostoma tuberosum (Jack) Spreng., 1824
Bantiala rubra Dauphinot, 1791
Myrmecodia amboinensis Becc., 1884
Myrmecodia vivipara Warb., (1894)
Họ: Cà phê Rubiaceae
Bộ: Long đởm Gentianales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây sống bám bì sinh trên cành cây gỗ khác. Thân phồng thành củ, có nhiều gai và mọc lên 1 thân mang nhiều lá. Thân củ có nhiều lỗ như tổ ong cho kiến ở, giữ nước và các chất màu, phân của kiến nuôi cây. Lá mọc đối, dày, nhẵn bóng, mép lá nguyên, hình thuôn dài 8 – 10 cm, rộng 1 – 2 cm. Hoa mẫu 4, màu trắng. Bầu 2 ô. Quả hạch thuôn, khi chín màu đỏ, dài 1,5 – 2 cm. Hạt dài 4 – 5 mm. Khác với loài Ổ kiến Hydnophytum formicarum là củ nhẵn và từ 1 củ, có nhiều thân cây mọc lên.
Sinh học, sinh thái:
Ra hoa quả tháng 1 – 2. Sống phụ sinh trên cây gỗ khác trong rừng, nơi ẩm. Tái sinh bằng hạt. Loài này có mối quan hệ tương hỗ, cộng sinh với loài kiến ​​săn mồi. Cây có thân gốc phình to, rỗng, với nhiều đường ngoằn ngoèo để kiến ​​làm tổ và cây cung cấp thức ăn cho kiến. Phần thức ăn được cung cấp cho kiến ​dạng đường tiết ra trên thân cây. Bầy kiến ăn những thức ăn này và định cư trên cây để bảo vệ cây khỏi côn trùng gây hại. Khi cây trưởng thành nó ngưng cung cấp thức ăn cho bầy kiến và bầy kiến phải tự đi kiếm ăn, đem mồi về tổ. Thức ăn thừa và chất thải là nguồn dimnh dưỡng tốt cho cây. Các ghi nhận cho thấy những cây có kiến sinh sống được bảo vệ, phát triển tốt hơn và thường không bị các loài côn trùng phá hoại.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Ngãi, Kontum, Gia Lai (An Khê), Đắk Lắk (Tà Đùng), Lâm Đồng (Đà Lạt), Khánh Hòa (Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà).
Nước ngoài: Borneo, Jawa, Đảo Sunda Nhỏ, Malaya, Maluku, New Guinea, Philippines, Queensland, Đảo Solomon, Sulawesi, Sumatera, Thái Lan
Giá trị:
Loài hiếm. Có dạng sống đặc biệt; thân củ dùng chữa bệnh gan, vàng da, vàng mắt và chữa bệnh cho phụ nữ sau khi sinh đẻ.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào phía Nam và Tây Nguyên. Diện tích vùng cư trú (AOO) ước tính < 500 km2; sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do tác động của các hoạt động canh tác nông, lâm nghiệp và khai thác lâm sản; loài này bị khai thác quá mức làm dược liệu.
Phân hạng: EN B2ab(ii,iii).
Biện pháp bảo vệ:
Một phần sinh cảnh của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ quần thể và sinh cảnh của loài trong tự nhiên. Giảm thiểu tác động của canh tác nông nghiệp đến sinh cảnh của loài. Có thể trồng nhân tạo để bảo tồn và làm dược liệu..

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 321.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae