TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhông vảy nhỏ

Tên tiếng Anh: Small - scaled spiny lizard
Tên Latin: Pseudocalotes microlepis
Đồng danh: Calotes microlepis Boulenger 1888
Đồng danh: Calotes microlepis Smith, 1935
Đồng danh: Calotes microlepis Boulenger 1888
Đồng danh: Calotes microlepis Smith, 1935
Tên khác: Nhông bạch mã
  • Độ cao so mặt nước biển 1400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG VẢY NHỎ

Pseudocalotes microlepis Boulenger, 1888
Calotes microlepis Boulenger 1888
Calotes microlepis Smith, 1935
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài nhông có kích thước trung bình, dài thân (SVL) 49 – 76mm, dài đuôi (TailL) 97 – 153mm. Dài đầu hơn cao 1,3 lần. Tấm mõm rộng hơn cao, được viền bởi 4 vảy phía sau và hai tấm mép trên thứ nhất. Vùng trán, đỉnh hơi lõm, gờ má, gờ trên mắt sắc. Lỗ mũi tròn, ở giữa tấm mũi, cách tấm mõm một vảy nhỏ. Có núm gai bé ở vảy sau ổ mắt và phía trên màng nhĩ. Có từ 6 – 7 gai gáy và gai cổ dài, không đều. Các gai dọc theo sống lưng nhỏ. Màng nhĩ rõ, khoảng cách từ màng nhĩ đến sau mắt gần bằng khoảng cách từ trước mắt đến mũi.
Vảy thân có mấu hướng ra sau và xuống dưới. Có 63 – 72 hàng vảy bao quanh thân. Có từ 7 đến 10 tấm mép trên, 7 – 9 tấm mép dưới ở mỗi bên. Chi dài và mảnh. Có từ 9 – 11 bản móng dưới ngón I ở chi trước và 23 – 26 bản móng dưới ngón IV chi sau. Mặt trên đầu, thân và các chi có màu xanh, giữa sống lưng có màu nâu và các vệt đen mảnh kéo sang hai bên. Hai bên mắt có các vệt đen mảnh tỏa ra xung quanh. Đuôi có các khoanh xanh – nâu xen kẽ, phần sau đuôi màu nâu. Ở một số cá thể khác thân có màu nâu xám, mặt bụng có màu nhạt hơn. Phần họng có vệt sẫm màu cà phê được bao quanh bởi các viền màu vàng chanh.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các khu vực rừng thường xanh còn tốt, thường bám ở trên các cây bụi thấp để săn mồi, thỉnh thoảng cũng thấy chúng leo trèo trên cây gỗ lớn ở độ cao 600 – 1.000m. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Con cái đẻ trứng dưới đất hay dưới thảm mục thực vật. Trứng hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ và môi trường.
Phân bố:
Trong nước: Bắc Kạn, Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng.
Nước ngoài: Myanmar, Trung Quốc, Thái Lan, Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Hiện nay số lượng loài đang bị giảm sút do thiếu sinh cảnh thích hợp.  Việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên đã khiến loài này đang bị đe dọa. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Mô tả loài: Hoàng Ngọc Thảo, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae