TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhông phú quốc

Tên tiếng Anh: Cardamom mountains pricklenape
Tên Latin: Acanthosaura cardamomensis
Đồng danh: Acanthosaura armata Boulenger, 1885
Đồng danh: Gonocephalus armatus crucigerus Smith, 1935
Đồng danh: Acanthosaura crucigera Daltry & Chenag, 2000
Đồng danh: Acanthosaura cardamomensis Wood et al., 2010
Tên khác: Nhông núi cardamomen
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG PHÚ QUỐC

Acanthosaura cardamomensis Wood et al., 2010
Acanthosaura armata Boulenger, 1885
Gonocephalus armatus crucigerus Smith, 1935
Acanthosaura crucigera Daltry & Chenag, 2000
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata 

Đặc điểm nhận dạng:
Con cái trưởng thành, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 149.4 mm. Dài đuôi 174.3 mm. Đầu dài (dài đầu 42.4mm), hơi hẹp, tương đối cao, nhọn ở góc nhìn từ trên xuống và ngang. Mõm tương đối dài, vảy mõm rộng, nghiêng sâu về phía trước. Gờ sóng mũi rõ, là tổ hợp của 13 vảy nở rộng, nhô hẳn lên và chạy lên trên mắt. Vảy mõm lớn, hình chữ nhật, được bao quanh phía mặt bên bởi những vảy môi trên đầu tiên và phía sau bởi bốn vảy nhỏ hơn. Các vảy mũi có hình dáng như miệng núi lửa, được bao quanh bởi một vảy trước mũi, bốn vảy sau mũi và ba vảy dưới mũi. Có 8 vảy giữa các vảy mũi. Các vảy trên mũi tương đối thon dài. Các vảy nở rộng trên mắt có gờ yếu. Ba hàng vảy có gờ dưới mắt trải rộng từ mép trước mắt đến giữa mắt. Mắt tương đối lớn. Vảy gian mắt, vảy trán và vảy trước trán có gờ và nhở hơn hàng vảy nở rộng của các vảy có gờ dưới mắt. Có 4 vảy trước trán nở rộng, có gờ, đơn lẻ xếp thành một vệt hình chữ Y. Các vảy chỏm đầu phẳng đến có gờ nhẹ. Các vảy chẩm có đốm hình mắt được bao quanh bởi một hàng vảy. Có gai biểu bì hình trụ lớn ở trên góc sau mắt, được bao quanh bởi 4 vảy thuôn nhọn. Gai chẩm được bao quanh bởi 4 vảy có gờ nở rộng. Một hàng 5 vảy dưới mắt nở rộng, có gờ chạy từ dưới góc sau mắt đến mép trước màng nhĩ, giảm kích thước ở phía sau, kết thúc ở vảy hình gai. Có gai biểu bì hình trụ thon dài trên mép mặt bên của gáy được bao quanh bởi bốn gai nhỏ hơn xếp thành hình hoa thị.
Màng nhĩ trần, tròn, được bao quanh bởi những vảy hình nón nhỏ. 13 vảy môi trên hình chữ nhật giảm kích thước ở phía sau. Vảy cằm vuông ở trên, trở nên hình tam giác ở dưới, lớn hơn các vảy môi dưới liền kề. Hai vảy sau cằm giống nhau về kích thước, bốn vảy nối với vảy cằm. Tấm vảy cằm nở rộng, trải rộng ra sau đến góc hàm, tách biệt với vảy môi dưới bởi một hàng vảy phía trước và 3 vảy ở góc hàm. 12 vảy môi dưới, các vảy trung tâm nở rộng nhất. Các vảy cổ họng có gờ sắc bén và các gai xếp thành một hàng giữa mặt bụng. Có túi họng sệ xuống. Mào gáy có một khe hở 11 vảy ở đáy gáy. Mào gáy gồm 8 vảy hình mũi mác, thon dài được bao quanh bởi một hai dãy vảy nở rộng có gai phẳng ở mỗi bên. Xuất hiện mào lưng giữa thân, chạy từ mép sau của khe hở trên đáy đuôi, mào xương sống gồm những vảy gai nở rộng, hóp mặt bên, dạng gai biểu bì, được bao quanh bởi hai dãy vảy gai bên xương sống nhở hơn. Mào xương sống trở nên thon ở độ cao ba phần tư khoảng cách xuống cột xương sống rồi mất hẳn ở đáy đuôi. Thân mập, tiết diện tam giác. Vảy lưng nhỏ có gai nhô lên chính giữa. Thỉnh thoảng có các vảy lớn hơn ở giữa các vảy lưng. Các vảy của vùng ngực và bụng lớn hơn vảy lưng, có gờ, có gai, xếp thành các hàng gần như ngang. Có các vảy nở rộng ở trước đến huyệt.
Các chân tương đối dài. Vảy mặt trên và mặt dưới của chân trước có gờ, có gai và gần như cùng kích thước. 5 ngón chân chân trước. Vảy dưới ngón có gờ. Vảy bàn chân sau có gờ và có gai. Các vảy sau đùi nhỏ, rải rác có những vảy có gai lớn hơn. Chân sau có 5 ngón. Vảy dưới ngón có gờ. 17 màng da dưới ngón thứ tư chân trước. 22 màng da dưới ngón thứ tư chân sau. Đuôi dài bằng 117% chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt, được phủ bởi lớp vảy có gai. Các vảy có gờ dưới đuôi hướng ra sau, bằng kích thước với vảy khác của đuôi. Đáy đuôi của con đực gần như rộng gấp hai lần con cái. Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu, thân và chân màu vàng xanh lá cây, các mặt và đỉnh của đầu màu nhạt hơn thân. Quầng mắt đen trải rộng từ mép sau mũi xuyên qua ổ mắt và màng nhĩ, hội tụ với vết thâm sau gáy. Môi màu kem, có đốm đen ở các vảy môi phía trước và giảm mật độ đốm ở phía sau. Con ngươi màu nâu da cam. Vạch cổ hoàn chỉnh về phía lưng, mờ trên gáy. Vùng họng gần như đều màu đen, có sọc màu kem chính giữa ở túi họng, trải rộng từ vùng họng đến góc sau của túi họng.
Thân có hoa văn giả đá hoa cương màu đen ánh xanh lá cây. Hoa văn giả đá hoa cương vụng bụng, còn xen lẫn những đốm vàng trải rộng đến trên đáy đuôi và nhạt màu ở ngay chỗ đuôi ấy. Các chân có màu vàng xanh lá cây kèm những vảy nổi bật lên bởi màu đen nhạt ở ngoại biên. Đuôi có vằn nhạt phía trước, trước nền đen rõ ở phía sau. Mặt dưới của chân và bụng màu kem.
Acanthosaura cardamomensis khác các loài cùng Giống Acanthosaura khác bởi những đặc điểm sau đây:
Khác với loài Acanthosaura capra bởi có nhiều vảy môi trên hơn ( 11 – 15 vảy so với 10 vảy), có gai vùng chẩm (Acanthosaura capra không có), không có các vảy lưng đều màu như loài Acanthosaura capra.
Khác với loài Acanthosaura coronata bởi có màu lưng, gai sau mắt, gai gáy, gai lưng, gai chẩm, vệt kim cương vùng váy, quầng mắt đen, túi họng và một khe hở. Có nhiều màng da dưới ngón chân thứ tư chân trước hơn (15 – 20 màng so với 13 – 14 màng), nhiều màng da dưới ngón thứ tư chân sau hơn (20 – 25 màng so với 17 – 19 màng), nhiều vảy ở vùng giữa từ vảy đuôi mắt thứ năm đến vảy môi trên thứ năm hơn (7 – 12 vảy so với 5 – 6 vảy), có ít vảy giữa vùng các vảy mũi và vảy mõm hơn (1 – 2 vảy so với 3 – 4 vảy)
Khác với loài Acanthosaura nataliae bởi có một khe hở dài hơn (2.7 – 8.3 mm so với 2.5 mm), có một gai chẩm, vệt gáy hình kim cương và vệt sáng ở đầu gối.
Khác với loài Acanthosaura lepidogaster bởi có tỉ lệ chiều dài các gai vùng sau mắt so với dài đầu lớn hơn (14 – 45% so với. 10 – 11%), tỉ lệ chiều dài vảy gáy so với dài đầu lớn hơn (17 – 66% so với 15%), có tỷ lệ chiều dài gai lưng so với chiều dài đầu lớn hơn (, 14 – 45% so với 7 – 12%) và có tỉ lệ chiều dài gai chẩm so với dài đầu lớn hơn (24 – 56% so với 14 – 15%).
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống trong các khu rừng thường xanh còn tốt ở độ cao 400 – 800 m đôi khi gặp ở độ cao thấp ở các khu rừng phục hồi vào đầu mưa. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Đẻ trứng dưới đất và phủ bằng các lớp thảm mục thực vật, giới tính con non hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới được ghi nhận vùng phân bố mới năm 2020 ở khu vực rừng phục hồi, rừng ven suối, ven biển thuộc Vườn quốc gia Phú Quốc, thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.
Nước ngoài: Cambodia, Thailand (Núi Cardamom).
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Hiện nay số lượng loài đang bị giảm sút do thiếu sinh cảnh thích hợp. Việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên đã khiến loài này đang bị đe dọa. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae