Nhông kontum
| Tên tiếng Anh: | Kontum lizard |
|---|---|
| Tên Latin: | Pseudocophotis kontumensis |
| Đồng danh: | Pseudocophotis kontumensis Ananjeva et al., 1988 |
| Đồng danh: | Pseudocophotis kontumensis Ananjeva et al., 1988 |
| Đồng danh: | Pseudocophotis kontumensis Ananjeva et al., 1988 |
| Đồng danh: | Pseudocophotis kontumensis Ananjeva et al., 1988 |
| Tên khác: | Nhông hoa tây nguyên |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sắp nguy cấp VU: Vulnerable
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Thú kiếm ăn ban ngày
NHÔNG KONTUM
Pseudocophotis kontumensis Ananjeva et al., 1988
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata
Đặc điểm nhận dạng:
Con đực có chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 85.6 mm. Chiều dài ống chân 134 mm. Dài đầu 29.9 mm. Rộng đầu 15.3 mm. Cao đầu 14.1 mm. Có 38 vảy quanh thân giữa. Chân trước dài 33.4 mm. Chân sau dài 46.6 mm. Chiều dài từ mõm tới mắt là 11.9 mm. Khoảng cách gian ổ mắt 12.6 mm. Màng nhĩ khuất sâu, được phủ bởi vảy. Đường kính theo chiều ngang của ổ mắt là 7.4 mm. Dài đầu/chiều dài mút mõm đến lỗ huyệt 34.9; Rộng đầu/Chiều dài mút mõm đến lỗ huyệt 17.9; Cao đầu/Chiều dài mút mõm đến lỗ huyệt 16.5; Phân tách rõ với thân. Có 9 vảy mõm trên và 8 vảy môi dưới. Vảy môi trên tách biệt với vảy vùng.
Khoảng cách trong ổ mắt có 12 – 13 vảy và khoảng cách trong mũi có 5 vảy. ổ mắt bởi hai ràng vảy lớn. 7 vảy gắn kết với môi. 7 vảy gắn kết với mũi. 7 vảy gắn kết với gian chẩm. Từ phía sau đến vảy chẩm và đầu vùng ổ mắt được phủ dày đặc những vảy nổi hột kích thước khác nhau. Vảy mõm, vảy ổ mắt và vùng trên ổ mắt đều là vảy dẹt.
Loài này có hai hai màu phụ thuộc vào ngày và đêm. Dưới ánh sáng ban ngày, chúng nó màu sáng hơn, có hai vết trắng rộng ngang giữa chân và một vết ít sáng hơn ở vùng cổ. Sáu vết loang qua đuôi. Màu nền chung là nâu với hơi xanh lá cây ngoại trừ đầu. Vảy môi trên và dưới màu xám. Trên vảy môi trên từ đỉnh mõm đến cổ bị chắn bởi vết sáng mà xanh sáng từ mõm đến mắt. Từ mắt đến cổ có vết vào nâu vàng. Mặt bụng có màu xanh xám. Màu nền và hoa văn tạo điều kiện nguỵ trang lý tưởng cho chúng khi ở trên cây. Vào ban đêm, màu của chúng nói chung là tối hơn. Các vết cũng như hoa văn khác cũng không phát triển rõ.
Loài Pseudocophotis kontumensis khác với các loài nhông khác của Việt Nam ở những đặc điểm sau:
Chúng là loài nhông có kích thước trung bình với cơ thể hẹp mặt bên, vảy mặt bên và lưng rất lớn, có vảy mào nhỏ ở bụng, màng nhĩ khuất,đuôi linh hoạt và xếp qua họng. Không có túi kêu.
So với giống Acanthosaura sp., Nhông kontum tiêu biến gai mào gáy và sau hốc mắt.
So với giống Calotes sp., Nhông kontum có vảy lưng không tương xứng.
So với giống Bronchocela sp., Nhông kontum có đuôi ngắn hơn.
So với giống Gonocephalus sp., Nhông kontum có màng nhĩ khuất, kích thước con trưởng thành nhỏ hơn và vảy bụng nhỏ hơn so với vảy lưng.
Loài này khác hai loài Pseudocalotes ở Việt Nam Pseudocalotes brevipes, Pseudocalotes microlepis về các đặc điểm sau: màng nhĩ khuất và số lượng vảy quanh thân giữa ít hơn Pseudocalotes brevipes, Pseudocalotes microlepis có đuôi ngắn hơn nhiều.
So với các giống Japalura sp.,Nhông kontum có màng nhĩ khuất và chân cũng như đuôi dài hơn.
So với loài Pseudocalotes sumatrana, Nhông kontum có vảy quanh thân giữa cao hơn.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống trong các khu rừng thường xanh còn tốt ở độ cao 1.000 – 1.800m. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Đẻ trứng dưới đất và phủ bằng các lớp thảm mục thực vật, giới tính con non hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.
Phân bố:
Loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam và được phát hiện ở Vườn quốc gia Ngọc Linh thuộc tỉnh Kontum năm 1988.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở khu vực rừng thuộc huyện Kon Plông, tỉnh Kontum; diện tích phạm vi phân bố (EOO) ước tính khoảng 1.000 km2; rất hiếm gặp, số địa điểm ghi nhận là 1; sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản và xâm lấn đất rừng.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Loài này đã đưa vào sách đỏ Việt Nam 2023, cần kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của con người nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn lục jerdon
Tên tiếng Anh:Jerdon’s pitviper
Tên Latin:Protobothrops jerdonii
Rái cá thường
Tên tiếng Anh:Eurasian otter
Tên Latin:Lutra lutra
Bướm quạ cánh trước xanh đậm
Tên tiếng Anh:Long branded blue crow
Tên Latin:Euploea algea
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae