TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Ngô Văn Trí

Nhông cát sọc

Tên tiếng Anh: Peters's butterfly lizard
Tên Latin: Leiolepis guentherpetersi
Đồng danh: Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
Đồng danh: Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
Đồng danh: Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
Đồng danh: Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
Tên khác: Nhông cát peter
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG CÁT SỌC

Leiolepis guentherpetersi Darevsky & Kupriyanova, 1993
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài thể tam bội đơn tính lớn (3n = 54). Với các loài Leiolepis khác ở những đặc điểm sau: Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 156 mm, Môi rộng gấp 3 – 3.5 lần cao. Có 17 – 20 vảy bụng giữa đường chính giữa bụng và vảy lưng nhỏ. 14 – 18 vảy phình to băng qua phần dưới ống chân. Bốn ngón cái có 40 – 43 vảy dưới ngón. Đùi có 21 – 23 vảy. 38 – 43 vảy giữa những đường sọc lưng bên sáng. Sọc lưng giữa tiêu biến. Sọc ngang hình thành bởi những hàng 4 – 5 đốm hình bầu dục sáng sinh ra một lưới đặc trưng giữa những sọc lưng bên.
Môi rộng gần gấp 3 lần cao, viên môi được bao quanh bởi 2 vảy môi trên và 6 vảy mềm sau môi, nối tiếp theo bởi 8 vảy mềm. Các vảy khác trên mõm và trong vùng gian ổ mắt có gờ mào rõ. Vùng trên ổ mắt có 6 hàng vảy. 8/9 vảy môi trên, 9/10 vảy môi dưới. 42 – 44 vảy giữa đường sọc dọc theo lưng bụng, tính ở giữa thân. Vảy bụng rộng như hai vảy lưng. 18 – 19 vảy bụng giữa đường chính giữa bụng và những vảy lưng nhỏ. 15 vảy phình lớn qua phần dưới của ống chân. Một dãy gồm 21/22 lỗ đùi tách biệt.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các khu vực rừng cát ven biển ban ngày kiếm ăn và ban đêm chui vào hang sâu để ở. Chỉ xuất hiện vào mùa mưa và gần như không thấy vào mùa khô. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vựcnhư châu chấu, cào cào, dế, ong, kiến, bọ rùa, bổ củi. Thức ăn chính của cá thể non cũng giống như cá thể trưởng thành gồm tràng quả, châu chấu, cào cào, dế, ong, kiến. Con cái đẻ trứng từ tháng 4 – 7 hàng năm. Sống trong hang ở cồn cát chạy dọc theo bờ biển từ 50 – 100m hoặc ở các vùng gò đồi và nương rẫy ở đồng bằng trên nền đất cát hoặc pha cát. Hệ thực vật gồm một số cây đặc trưng như Sim, Mua, cỏ lá, cỏ ống. Chúng tự đào hang để ở. Hang có dạng ngoằn ngoèo, gấp khúc nhiều doạn. ngoài cửa hang chính còn có cửa hang phụ được lấp kín hoặc ngụy trang khéo léo là cửa thoát khi gặp nguy hiểm.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu này phân bố ở bờ biển miền Trung Việt Nam từ tỉnh Thừa Thiên Huế đến tỉnh Quảng Ngãi và được công bố năm 1993 để vinh danh nhà nghiên cứu Bò sát lưỡng cư người Đức Dr Günther Peters.
Nước ngoài: Không có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú để làm nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Diện tích phạm vi phân bố (EOO) dọc ven biển Việt Nam ước tính khoảng 4.000 km2, số địa điểm ghi nhận là 4; sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do tác động của các hoạt động nuôi trồng thủy sản và phát triển du lịch; loài này cũng thường xuyên bị săn bắt làm thực phẩm.
Phân hạng: EN B1ab(iii,v).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam năm 2023. Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên cần kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động phát triển du lịch không bền vững. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của con người nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae