TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Nguyễn Trí Lâm

Nhông cát reeves

Tên tiếng Anh: Reeves's butterfly lizard
Tên Latin: Leiolepis reevesii
Đồng danh: Uromastyx revesii Gray, 1831
Đồng danh: Uromastyx revesii Gray, 1831
Đồng danh: Uromastyx revesii Gray, 1831
Đồng danh: Uromastyx revesii Gray, 1831
Tên khác: Nhông cát đốm đỏ
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG CÁT REEVES

Leiolepis reevesii (Gray, 1831)
Uromastyx revesii Gray, 1831
Họ Nhông Agamidae
Bộ Có Vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Nhông cát có chiều dài trung bình, đuôi tròn phủ vảy nhỏ, có lỗ đùi. Cá thể đực có màu sắc sặc sỡ, lưng có chấm hình ôvan màu vàng, hoặc da cam viền xám. Cá thể cái không có những hoa văn hình ôvan rõ như cá thể đực. Cá thể đực có hai dải sọc bên lưng không liên tục từ sau mắt đến góc đuôi tạo thành những hoa văn hình ôvan. Trái lại, ở cá thể cái hai dải sọc bên đuôi liền từ sau mắt đến gốc đuôi. ở phần giữa lưng cá thể đực có các hoa văn hình bầu dục màu vàng hoặc da cam viền xám. ở cá thể cái không có các hoa văn rõ như vậy.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở vùng cát ven biển, sống chủ yếu trong hang, hang có chiều dài từ 0,6 – 2,5m ở cá thể trưởng thành và 0,2 – 1m ở cá thể chưa trưởng thành. Độ sâu của hang từ 0,2 – 1,2 m. Mỗi hang có 1 – 3 lối thoát phụ. Mỗi cá thể sống trong một hang. Sinh sản từ cuối tháng 5, đầu tháng 6 đến cuối tháng 9. Bắt đầu giao phối từ giữa tháng 5 đến giữa tháng 8, chủ yếu vào 10 giờ sáng và 15 giờ 30 đến 17 giờ. Quả trứng đầu tiên được phát hiện vào đầu tháng 6, quả trứng cuối cùng vào giữa tháng 9. Cá thể cái thường đào một hố cát sâu khoảng 20cm, đẻ khoảng 2 trứng ít khi 3 trứng vào đó rồi lấp cát lên trên trứng. Trong mùa sinh sản bắt gặp 2 – 3 cá thể đực; 4 – 5 cá thể cái. Cá thể đực rượt đuổi từng con cái khác nhau và sau cùng chỉ giao phối với một con cái.
Phân bố:
Trong nước: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Kiên Giang.
Nước ngoài: Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam), Thái Lan, Campuchia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú để làm nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này thường bị săn bắt làm thực phẩm; quần thể trong tự nhiên ước tính bị suy giảm gần 30% trong vòng 20 năm qua, các nhân tố tác động vẫn đang tiếp diễn (tiêu chuẩn A2d); nhông cát ri-vơ thường sống ở khu vực bãi cát ven biển, mặc dù có vùng phân bố rộng nhưng khá hiếm gặp, diện tích phạm vi phân bố (EOO) ở Việt Nam (từ Thanh Hóa vào đến Thừa Thiên Huế) ước tính khoảng 21.000 km2, sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, suy thoái do tác động của các hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản.
Phân hạng: NT A2d; B1a,b(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Kiểm soát việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này. Bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản và phát triển du lịch không bền vững. Nhân nuôi sinh sản phục vụ nhu cầu của con người nhằm giảm thiểu săn bắt từ tự nhiên.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 235.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae