TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhông cát ngô văn trí

Tên tiếng Anh: Ngovantri’s lady butterfly lizard
Tên Latin: Leiolepis ngovantri
Đồng danh: Leiolepis ngovantri Lee Grismer et al., 2010
Đồng danh: Leiolepis ngovantri Lee Grismer et al., 2010
Đồng danh: Leiolepis ngovantri Lee Grismer et al., 2010
Đồng danh: Leiolepis ngovantri Lee Grismer et al., 2010
Tên khác: Nhông cát trinh sản
  • Độ cao so mặt nước biển 50 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG CÁT NGÔ VĂN TRÍ

Leiolepis ngovantri Lee Grismer & Lesse Grismer, 2010
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Dài đầu 21 mm. Đầu tròn khi nhìn ngang, hình tam giác khi nhìn từ trên xuống. Rộng đầu 17.5 mm. Vùng gian mắt, trán và mõm cao và lồi. HH 13.5 mm; RH 8.5 mm, nghiêng gốc phía trước, được phủ bởi các vảy nhỏ có gờ giống nhau. Các vùng trên mắt và chẩm được phủ bởi 22 vảy nổi hạt có gờ, kích thước bằng một nửa vảy đầu. Gờ mắt mũi ngắn, tròn bao gồm một hoặc hai vảy nở rộng. Các vảy mặt lưng của đầu có gờ rõ, 7 vảy dọc xương trán giữa vùng trên mắt. Vảy mõm lớn, hình tam giác, được bao quanh bởi các vảy môi trên đầu tiên ở phía mặt bên, vảy vảy nhỏ ở phía sau. Lỗ mũi ngoài lớn, tròn (DN 4.5 mm), nằm trên vảy mũi đơn hình bầu dục, được bao quanh bởi các vảy nhỏ. Vảy trên mắt thon dài, có gờ chạy từ mép sau mắt đến ngay vùng giữa mắt, 7 vảy dưới mắt có gờ, nở rộng , chạy từ mép trước mắt đến mép sau mắt. Vảy mí trên mắt thon dài, có gờ, xếp gối lên nhau, nối tiếp với các vảy khoé mắt. Vảy mi mắt nổi hột. Màng nhĩ rõ, sâu, bao quanh bởi những vảy nổi hột. Các vảy thái dương nhỏ. 9 vảy môi trên hình chữ nhật. 2 vảy sau cằm lớn. Vảy môi dưới 11 bên trái, 10 bên phải, trong đó vảy đầu tiên lớn nhất. Vảy họng nhỏ, tròn, nổi hột. 24 vảy họng giữa các vảy hàm dưới nở rộng. Có nếp họng phía trước và sau. Không có yếm họng. Nếp vai nối tiếp với nếp họng phía sau. Thân thon dài (AG 60.5 mm), hơi hóp mặt bên thân. Vảy thân nhỏ, nổi hột, có gờ. 52 vảy giữa các sọc lưng bên, 16 hàng vảy giữa các sọc bụng bên và lưng bên ở điểm rộng nhất của thân. 43 vảy dọc giữa bụng. Các vảy trước huyệt nhỏ, liền kề. Chân trước ngắn, mập (FA 15 mm). Mặt lưng của chân trước có các vảy xếp lợp, lớn, có gờ. 9 hàng vảy nở rộng, có gờ dọc cẳng chân trước. Mặt bụng của chân trước có vảy nổi hột. Các vảy gan bàn chân nhỏ. Màng da dưới ngón chân trước có 3 nếp lượn sóng, thon dài chiều ngang. Móng vuốt dài. Chân sau tương đối dài (TIB 23 mm; HB 43 mm).
Vảy mặt lưng của chân sau nhỏ, có gờ yếu. Các vảy mặt trước đùi lớn, phẳng, gờ yếu, xếp lợp. 11 hàng vảy bên trái, 10 hàng vảy bên phải, xếp lợp, phẳng, lớn chạy dọc xương chày. 42 lỗ đùi. Mỗi lỗ nằm trên một vảy lớn hơn. 13 vảy không lỗ nằm giữa các vảy lỗ. Các vảy gan bàn chân nhỏ. Màng da dưới ngón có hai lượn nếp sóng, 39 màng dưới ngón thứ tư chân sau. 32 vảy dạng phiến nở rộng sọc mặt lưng của ngón thứ tư chân sau.4 vảy hình tam giác nở rộng ở mặt sau của ngón thứ ba chân sau. 10 vảy dạng phiến nở rộng chạy dọc chiều dài ngón đầu tiên chân sau. Đuôi hóp ở mặt bên, lồi lên ở đáy, thắt lại ở điểm nối với thân, được phủ bởi vảy có gờ, nhỏ. Vảy dưới đuôi có gờ yếu, lớn, phẳng. Vảy đuôi xếp thành hàng ngang Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu, thân, chân và đuôi có màu nâu sáng đến vàng đục. Không có đốm sáng ở đỉnh đầu. Có vệt sáng trên góc trước của mắt và dưới mắt. Phần sau của mi mắt dưới màu trắng. Dãy đốm màu vàng nhỏ, giãn cách gần hình thành sọc sau mắt vỡ loang chạy từ vùng thái dương đến vai rồi liền mạch chạy xuống đến chỗ mọc chân trước. Vùng dưới thái dương màu be đến kem. Có đốm trắng trên mặt cổ. Sọc màu vàng sáng. Các đốm dạng mắt lớn, nổi rõ, màu ô lưu đến vàng đục ở lưng. Đốm hình mắt phía lưng nằm trong mạng lưới của các đường kẻ đen mảnh, 4 – 5 đốm mắt giữa các sọc lưng bên ở điểm rộng nhất của thân. Sọc lưng bên màu vàng, rộng, rõ chạy từ đáy đuôi đến vai. Một sọc lưng bên màu vàng nhạt phía trước và nối với vùng nách. Đốm chân trước màu trắng nhạt. Hoa văn lưng của thân trải rộng từ mặt lưng trải rộng xuống mặt lưng của chân sau. Các đốm nhỏ, màu ô lưu đến vàng đục trên vùng giữa mặt lưng của đuôi. Sọc ở mặt bên đuôi. Vùng dưới đuôi không hoa văn. Phần sau của đuôi có vằn ngang màu đen, mảnh. Vùng họng có các đường kẻ xiên, màu be nhạt đến đập, dạng không đều. Họng màu xám. Bụng và mặt dưới của chân màu be.
Leiolepis ngovantrii khác các loài trinh sản cùng giống khác (ngoại trừ Leiolepis triploida) ở những đặc điểm sau:
Có đầu hẹp hơn (HW / HL 0.71 – 0.83 so với 0.66 – 0.69 và 0.65 – 0.68 ở Leiolepis boehmei và Leiolepis guntherpetersi) – 50 – 53 vảy lưng giữa các sọc lưng bên (so với 42 – 48 và 38 – 42 vảy ở Leiolepis boehmei và Leiolepis guntherpetersi). Không có một sọc đuôi mặt bên sáng.
Leiolepis ngovantrii khác các loài trinh sản cùng giống khác (ngoại trừ Leiolepis boehmei) bởi không có vệt chữ Y màu đen ở ngực, sọc xương sống và các đốm hình mắt ở trung tâm màu trắng.
Leiolepis ngovantrii khác các loài trinh sản cùng giống khác (ngoại trừ Leiolepis guntherpetersi) bởi có nhiều vảy họng hơn (24 – 25 so với 18 – 19 ở Leiolepis boehmei và 17 – 19  Leiolepis triploida) ở giữa các vảy hàm dưới nở rộng. Sọc bên bụng không chạm vùng nách. Có vằn ngang ở hông và đuôi, không có đốm ở mặt lưng của đuôi.
Leiolepis ngovantrii khác loài Leiolepis boehmei bởi có ít vảy môi trên hơn (9 – 10 so với 11 – 12). Khác loài Leiolepis guntherpetersi bởi có nhiều vảy trên mắt dọc mặt lưng của vùng trên mắt hơn (6 – 7 so với 4) và ít vảy mặt bụng của cẳng chân sau hơn (10 – 11 so với 14).
Sinh học, sinh thái:
Sống hầu hết ở khu vực ven biển, các khu rừng nửa rụng lá, rừng phi lạo mọc ở các đụn cát và những loài cây bụi nhỏ. Làm tổ bằng cách đáo hang trong các đụn cát. Thường hoạt động kiếm ăn ngày, nhiều nhất trong suốt thời gian vào buổi sáng sớm, chiều tối và tránh nắng trong hang khi nắng nhiệt độ khu vực lên cao. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực. Màu sắc của chúng khá giống với nền rừng trong khu vực nhằm ngụy trang và để chúng hòa mình với màu của nền rừng vào mùa khô và giúp chúng lẩn tránh kẻ thù tốt hơn. Đây là một trong những loài thích nghi tốt với rừng khô nhiều cây họ Dầu trên nền đất cát ven biển, hay rừng tràm trên vùng đất nhiễm phèn.
Loài này có thể là kết quả lai giống giữa 2 loài nhông cát cận chủng. Đây là một hiện tượng có thể xảy ra trong vùng chuyển tiếp giữa hai hệ sinh thái. Điển hình là nơi sinh sống của loài nhông cát mới này là khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu, nằm giữa vùng đồng đất cây bụi và các cồn cát ven biển. Căn cứ vào đó Grismer cho rằng hai loài thích ứng từ hai hệ sinh thái “sẽ giao phối chép và sinh sản tạo ra một dạng lai ghép và các “trinh nữ” này sinh sản theo phương thức đơn tính, nghĩa là có thể tự rụng trứng và tự phát triển thành dòng vô tính để cho ra đời những cá thể con non, không cần đến con đực. Loài mới công bố năm 2010 và được đặt tên để vinh danh ông Ngô Văn Trí – thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Người đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng ở miền Nam Việt Nam và đã phát hiện ra quần thể vô tính mới này, cũng như nhiều loài thằn lằn mới khác.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu ở Việt Nam và mới phát hiện ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú để làm nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Hiện nay số lượng loài đang bị giảm sút do thiếu sinh cảnh thích hợp.  Việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên đã khiến loài này đang bị đe dọa. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Mô tả loàiPhùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae