TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhông bach

Tên tiếng Anh: Vietnamese blue crested lizard
Tên Latin: Calotes bachae
Đồng danh: Calotes bachae Hartmann et al., 2013
Đồng danh: Calotes bachae Hartmann et al., 2013
Đồng danh: Calotes bachae Hartmann et al., 2013
Đồng danh: Calotes bachae Hartmann et al., 2013
Tên khác: Nhông việt nam
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÔNG BACH

Calotes bachae Hartmann et al., 2013
Họ: Nhông Agamidae
Bộ: Có vảy Squamata

Đặc điểm nhận dạng: 
Loài nhông có kích thước trung bình, dài đầu và thân đạt tới 97mm; đuôi rất dài 198mm, gấp hơn 2 lần chiều dài đầu và thân; vảy thân nhỏ, kích cỡ không đều, hơi có gờ, sắp xếp thành các hàng không đồng nhất; có 44 – 50 hàng vảy quanh thân; có 2 gai nhỏ phía trên màng nhĩ; hàng gai gáy và gai lưng nối liền nhau; có một diềm da chạy từ sau hàm đến gần chi trước; có một mảng màu xanh lam ở trên đầu và gáy tới vai, mờ dần ở phía sau chi trước; có một sọc vàng chạy từ phía dưới ổ mắt qua màng nhĩ về góc sau hàm; phần sau thân màu vàng hay nâu nhạt.
Trước đây, loài nhông mới này thường được định loại nhầm với loài Nhông xám Calotes mystaceus, một loài được các nhà khoa học Pháp mô tả vào năm 1837 với mẫu vật thu ở Myanmar. Do loài Nhông xám rất phổ biến và có vùng phân bố rộng từ Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Myanma qua Lào, Cambodia đến Thái Lan. Nên các mẫu vật giống với loài Nhông xám ít được các nhà khoa học chú ý về mặt phân loại học. Tuy nhiên, khi so sánh chi tiết hơn về mặt hình thái và di truyền, các nhà khoa học đã phát hiện ra đây là loài Nhông ở miền Nam Việt Nam khác với loài Nhông xám và đã công bố loài mới.
Sinh học, sinh thái:
Loài bò sát máu lạnh này sống nhiều ở trên cây hơn các loài Calotes khác trong khu vực, săn bắt các côn trùng lớn trên các thân cây gỗ cao, trên mặt đất. Con cái đẻ khoảng 7 trứng sau những cơn mưa to đầu mùa và chôn trứng dưới đất, quá trình ấp trứng hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, con nhỏ nở ra sau khoảng thời gian hai tháng. Trong mùa giao phối, con đực biết biến đổi màu sắc cơ thể sao cho thật tươi sáng như xanh da trời, xanh lá cây và vàng cam để thu hút bạn tình. Loài mới được phát hiện năm 2013 và vinh danh bà Rike Bach (Bonn), để bày tỏ lòng biết ơn vì đã hỗ trợ tác giả thứ hai Dr. Peter Geissler trong một số chuyến đi thực địa tại Đông Dương.
Phân bố:
Trong nước: Gia Lai (Sơklang), Đắc Lắc (Eakao, Krong Pach, Nam Đà), Lâm Đồng (Di Linh), Khánh Hoà (Nha Trang), Ninh Thuận (Nha Hố), Bình Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Long An cho đến Kiên Giang (Hà Tiên).
Nước ngoài: Loài này có ở Lào, Thái Lan và Cambodia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ, có thể nuôi trong các khu vực vườn thú. Hiện chúng đang là loài đang bị buôn bán làm cảnh. Có giá trị thẩm mỹ và nghiên cứu khoa học về sinh thái và tập tính của loài.
Tình trạng:
Hiện nay số lượng loài đang bị giảm sút do thiếu sinh cảnh thích hợp.  Việc khai thác rừng làm mất sinh cảnh sống của chúng trong tự nhiên đã khiến loài này đang bị đe dọa. Cần có những biện pháp khoanh vùng bảo vệ nơi loài này phân bố. Cấm săn bắt, cần tổ chức nuôi nhốt để bảo vệ nguồn gen.

Mô tả loàiPhùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae