Nhím đuôi dài
| Tên tiếng Anh: | Asiatic brush-tailed porcupine |
|---|---|
| Tên Latin: | Atherurus macrourus |
| Đồng danh: | Atherurus assamensis Thomas, 1921 |
| Đồng danh: | Hystrix macroura (Linnaeus, 1758) |
| Đồng danh: | Atherurus assamensis Thomas, 1921 |
| Đồng danh: | Hystrix macroura (Linnaeus, 1758) |
| Tên khác: | Don |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Indonesia Malaysia Myanmar Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Pakistan Hầu khắp các nước Đông dương (Thái Lan) Hầu khắp Việt Nam
- Môi trường sống Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng ven biển Rừng núi đá vôi Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới ven biển
NHÍM ĐUÔI DÀI
Atherurus macrourus (Linnaeus, 1758)
Atherurus assamensis Thomas, 1921
Hystrix macroura (Linnaeus, 1758)
Họ: Nhím Hisricidae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia
Đặc điểm nhận dạng:
Đon loài thú nhỏ trong họ nhím Hisricidae, cân nặng 3 – 5 kg, dài thân 380 – 500mm, dài đuôi 139 – 228mm, Đặc điểm để phân biệt với nhím là lông gai trâm thô, thưa, ngắn (70 – 100mm) và dẹp, (không tròn như Nhím Hystrix brachyura). Đuôi dài và có một chùm lông đuôi lớn như chiếc bàn chải ở chót đuôi, chân tay ngắn và mập mạp, tai tròn. Mắt và tai khá nhỏ. Bàn chân trước và chân sau có năm ngón, vuốt thẳng. Nệm chân dày, mềm giúp chúng chuyện động êm trong rừng vào đêm tối.
Sinh học, sinh thái:
Đon chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi hay nơi có nhiều đá lộ đầu, ở trong các hang, hốc đá tự nhiên. Là loài động vật nhanh nhẹn và có thể chạy, leo lên, và bơi tốt. Thức ăn gần giống nhím và có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau từ rừng nguyên sinh đến các vùng đất canh tác. Sống theo bầy đàn từ 6 – 8 con. Ban ngày ẩn nấp trong gốc cây, hang đá. Kiếm ăn ban đêm.
Phân bố:
Trong nước: Hầu hết ở các vùng còn rừng, đặc biệt là các khu vực núi có nhiều hang đá sâu.
Nước ngoài: Thái Lan, miền Đông Myanmar, Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung – WebAdmin, Bùi Tuấn Hải – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Đồi mồi dứa
Tên tiếng Anh:Olive ridley seaturtle
Tên Latin:Lepidochelys olivacea
Trà hàm yên
Tên tiếng Anh:Hamyen camellia
Tên Latin:Camellia hamyenensis
Cốt toái bổ
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Drynaria roosii
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae