Nhím đuôi ngắn
| Tên tiếng Anh: | Malayan porcupine |
|---|---|
| Tên Latin: | Hystrix brachyura |
| Đồng danh: | Acanthion brachyurus (Linnaeus, 1758) |
| Đồng danh: | Hystrix brachyura hodgsoni (Gray, 1847) |
| Đồng danh: | Acanthion brachyurus (Linnaeus, 1758) |
| Đồng danh: | Hystrix brachyura hodgsoni (Gray, 1847) |
| Tên khác: | Nhím |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Ấn Độ Trung Quốc Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Nepal Hầu khắp Việt Nam Vườn quốc gia Ba Vì, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Bangladesh
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng núi đá vôi Trong các khu vực hang động, hang đá
NHÍM ĐUÔI NGẮN
Hystrix brachyura Linnaeus, 1758
Acanthion brachyurus (Linnaeus, 1758)
Hystrix brachyura hodgsoni (Gray, 1847)
Họ: Nhím Hisricidae
Bộ: Gặm nhấm Rodentia
Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài đầu – thân: 635 – 725 mm. Chiều dài đuôi: 64 – 114 mm. Trọng lượng: 20 – 27 kg. Kích thước lớn, tai và đuôi ngắn. Bộ lông màu đen hoặc nâu sẫm. Trên lưng có lông cứng, nhọn, dài, mọc chĩa thằng về phía sau. Chân lông màu trắng. Một đôi sợi có vòng đen chen lẫn. Lông bờm dài 30 – 60mm, màu nâu sẫm.
Sinh học, sinh thái:
Có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau, từ rừng nguyên sinh đến rừng suy thoái. Ban ngày ngủ trong các hang hốc tự đào, miệng hang có cây cỏ mọc xum xuê. Kiếm ăn vào ban đêm. Thức ăn gồm rễ cây, măng, vỏ cây, quả chín rụng xuống đất, xương động vật, sừng hươu, hoẵng bị lột bỏ. Chúng thường tha xương động vật hay sừng hươu hoẵng vào hang gặm nhấm để răng cửa không mọc quá dài.
Khi gặp kẻ thù nhím thể hiện động tác đe dọa bằng cách dậm chân, xù lông và quay đuôi tạo ra tiếng động to. Nếu không kết quả chúng sẽ rút lui. Nếu kẻ thù tiếp tục truy đuổi, chúng sẽ bỏ chạy nhanh, sau đó đột ngột dừng lại, làm cho kẻ thù bị lông đâm. Nhím lắc đuôi liên tục làm cho lông va chạm nhau phát ra tiếng động. Qua nghiên cứu thấy rằng việc lắc đuôi như vậy để thể hiện khả năng uy lực của mình. Mỗi lần đẻ 2 – 3 con. Trong trại nuôi dưỡng chúng có tuổi thọ trên 27 năm.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam loài này phân bố khắp các kiểu rừng từ Bắc đến Nam ở độ cao trung bình dưới 2.000m.
Nước ngoài: Nepal, Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, đảo Sumatra, đảo Brunei.
Giá trị:
Thú quý hiếm, loài có giá trị trong hệ sinh thái và giá trị nghiên cứu khoa học cũng như nuôi cảnh ở công viên, vườn thú..
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng không còn nhiều trong tự nhiên. Gần đây chúng đã và đang bị săn bắt, buôn bán, sinh cảnh sống của chúng đang bị đe dọa vì phá rừng lấy đất nông nghiệp. Cần bảo vệ nghiêm ngặt để phát triển bền vững trong môi trường tự nhiên.
Biện pháp bảo vệ:
Cấm săn bắt, buôn bán ở những khu vực loài này phân bố, cần thu một số cá thể về nghiên cứu nuôi sinh sản tại các Trung tâm bảo tồn để giữ nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung – WebAdmin, Bùi Tuấn Hải – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bướm gia đình
Tên tiếng Anh:Common yeoman
Tên Latin:Cirrochroa tyche
Sưng mạng
Tên tiếng Anh:Lip swelling plant
Tên Latin:Semecarpus reticulatus
Chuột chù cộc
Tên tiếng Anh:Chinese mole shrew
Tên Latin:Anourosorex squamipes
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae