TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái lưỡi

Tên tiếng Anh: Blunt-headed burrowing frog
Tên Latin: Glyphoglossus molossus
Đồng danh: Glyphoglossus molossus Gunther, 1869
Đồng danh: Glyphoglossus molossus Gunther, 1869
Đồng danh: Glyphoglossus molossus Gunther, 1869
Đồng danh: Glyphoglossus molossus Gunther, 1869
Tên khác: Ếch òn
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI LƯỠI

Glyphoglossus molossus Gunther, 1869
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 59.77 – 65.03 mm ở con đực và 60.69 mm ở con cái. Thể tạng mập tròn. Đầu rất ngắn, lồi ở trên, rộng hơn dài (rộng đầu 18.29 – 20.16 mm ở con đực, 18.46 mm ở con cái. Dài đầu 12.62 – 14.17 mm ở con đực và 13.42 mm ở con cái). Mắt nhỏ, ngắn hơn khoảng cách giữa mắt và mút mõm (đường kính mắt 5.43 – 5.99 mm, dài mõm 5.8 – 6.14 mm). Mõm ngắn, hàm dưới vát cụt rõ. Màng nhĩ mờ. Không có răng lá mía. Chân trước: Dài bàn chân 18.15 – 18.81 mm. Chiều dài cẳng chân trước 25.62 – 28.79 mm. Màng bơi nhỏ giữa các ngón II và III. Công thức ngón IV<I<II<III Chân sau: Dài đùi 14.38 – 17.6 mm. Dài cẳng chân 21.93 – 14.38 mm. Dài bàn chân 26.24 – 31.07 mm. Đầu ngón chân tròn lồi nở ra thành đĩa nhỏ. Các ngón đều có màng bơi. Củ bàn trong dài hơn củ bàn ngoài. Da thân có nhiều nếp nhăn. Lưng, hông và phần trên của chân có nổi hột nhỏ. Có một nếp nhỏ qua đầu ra sau mắt. Bụng mịn. Lưng màu đen đến nâu xám. Mặt trên của chân có vô số đốm vàng nhỏ. Bụng màu trắng đến kem.
Sinh học sinh thái:
Sống các khu vực đất thấp, ngập nước vào mùa mưa như ruộng lúa, vũng nước và khu vực có nhiều cây bụi. Toàn bộ thời gian sống của chúng được chôn vùi dưới đất và chỉ xuất hiện ở những cơn mưa đầu mùa khoảng thới gian từ 1 – 2 tuần để tìm kiếm thức ăn, đẻ trứng và giao phối. Sau đó chúng đào hang và sống dưới đất để chờ mùa mưa năm sau sẽ chui lên. Là loài lưỡng cư thụ tinh ngoài và có tập tính ngụp đầu nín thở khi đẻ trứng. Cả con đực và con cái khi đang ghép đôi sẽ cùng nhau xoay đầu xuống nước một vài giây trong lúc đẻ trứng và thụ tinh trên mặt nước. Mỗi lần ngụp đầu xuống như thế, chúng đẻ được 200 – 300 trứng. Nòng nọc có một màu duy nhất và không có phần miệng keratin hoá. Vòng đời của chúng giống như các loài lưỡng cư khác trong tự nhiên.
Phân bố:
Trong nước: Gia Lai, Đắk Lắk, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh. Thành phố Hồ Chí Minh
Nước ngoài: Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Phú Yên, Gia Lai, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 21.160 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 8; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, làm đường và xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
Phân hạngNT B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2023. Sinh cảnh của loài có một phần nằm trong VQG Cát Tiên (Đồng Nai) và VQG Yok Đôn (Đắk Lắk) nên phần nào hạn chế được tác động. Tuy nhiên vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, giảm thiểu tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng.

Mô tả loàiPhùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Nguyễn Thiên Tạo – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae