TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái cóc đốm

Tên tiếng Anh: Spotted narrow-mouthed frog
Tên Latin: Kalophrynus interlineatus
Đồng danh: Engystoma interlineatum Blyth, 1855
Đồng danh: Diplopelma interlineatum Anderson, 1871
Đồng danh: Berdmorea interlineata Stoliczka, 1872
Đồng danh: Calophrynus interlineata Theobald, 1882
Tên khác: Ễnh ương miệng hẹp
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI CÓC ĐỐM

Kalophrynus interlineatus (Blyth, 1855)
Engystoma interlineatum Blyth, 1855
Diplopelma interlineatum Anderson, 1871
Berdmorea interlineata Stoliczka, 1872
Calophrynus interlineata Theobald, 1882
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có kích thước lớn trong họ nhái bầu, thân dài khoảng 35 – 55mm. Cơ thể hình tam giác, đầu nhỏ, mõm nhọn, da xù xì với những mụn cóc nhỏ li ti phân bố dày đều trên mặt lưng. Mặt lưng phẳng hân cách rõ gới sườn bằng một đường gờ sắc cạnh. Trên lưng gần phía đùi có hai đốm màu đen lớn rất rõ và các đốm đen nhỏ khác rải rác trên lưng. Mõm nhọn; gờ mõm tù, vùng má gần phẳng, thẳng đứng; miệng hẹp, mõm dài hơn một chút so với mắt (SL 4,78 mm, ED 4,34 mm); mắt bé, con ngươi nằm ngang; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt, khoảng cách gian mắt rộng hơn so với mí mắt trên (IOD 4,85 mm, UEW 2,77 mm); màng nhĩ rõ, bằng 2/3 của đường kính mắt (TD 2,73 mm, ED 4,34 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp xiên, gần chạm mép dưới lỗ mũi trong; lưới dài hẹp, tròn ở phía sau.
Ngón tay hoàn toàn tự do; ngón chân 1/4 có màng, mút các ngón tù; củ bàn trong và củ bàn ngoài tròn, kích thước tương đương; củ khớp dưới các ngón tay và ngón chân lồi, rõ; khi gập dọc thân khớp chày – cổ chạm vai, khớp cổ – bàn chạm đến mắt. Thân có nhiều nốt sần, các nốt sần ở vùng mõm nhỏ, ở lưng, bụng và các chi lớn hơn. Thân màu nâu vàng, có các đốm sáng hơn dọc theo sườn từ sau mắt đến gốc đùi; màng nhĩ, vai và hai bên sườn màu nâu sẫm; cằm và họng sáng màu hơn. Có hai đốm đen sẫm ở phía lưng, phần tiếp giáp với bẹn; bụng màu trắng đục. Khi bắt loài này chúng tiết ra một chất nhựa màu trắng, sau khô lại rất dính nên loài này còn có tên tiếng Anh là Indochinese sticky frog.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống phổ biến ở trong rừng rậm còn tốt hay rừng thứ sinh ở các khu vực thấp vàchu1ng th ường xuất hiện vào những cơn mưa đầu mùa ở vùng miền Đông nam bộ để giao hô và sinh sản, sau đó không còn gặ chúng khi nước lên cao. Vào mùa giao phối khi đụng vào cơ thể thường tiêt ra một chấy nhày màu vàng rât dính. Thức ăn của loài này là các loài côn trùng nhỏ như kiến, mối. Mùa sinh sản từ tháng 3 – 5 hàng năm , chúng đẻ trứng thành những đám nhỏ nổi trên các vũng nước đọng.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng, Ninh Bình, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Lâm Đồng, Tây Ninh.
Nước ngoài: Cambodia; Trung Quốc; Hongkong; Lào; Myanmar; Thailand.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên khá phổ biến, đặc biệt là vào những cơn mưa đầu mùa. Tuy nhiên càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

 

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae