TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái cây sần gordon

Tên tiếng Anh: Gordon's bug - eyed frog
Tên Latin: Theloderma gordoni
Đồng danh: Theloderma gordoni Taylor, 1962
Đồng danh: Theloderma gordoni Taylor, 1962
Đồng danh: Theloderma gordoni Taylor, 1962
Đồng danh: Theloderma gordoni Taylor, 1962
Tên khác: Nhái cây hủi nâu
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI CÂY SẦN GORDON

Theloderma gordoni Taylor, 1962
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có kích thước nhỏ. Đầu lớn,dẹp. Mõm tù, mút mõm hơi lõm, có riềm rõ,hơi nhô ra khỏi hàm dưới. Miệng mở rộng đến giữa mang tai. Khoé mắt lồi. Vùng má xiên và lõm nhẹ. Phía dưới của mõm có khía. Mép trong của mút hàm dưới lõm chữ V rõ. Mắt lớn. Mũi nhọn, hình bầu dục, cắt ở hướng bên, có nốt sần phình lớn ở mút mõm. Mũi gần mõm hơn mắt. Gian mũi hẹp và lõm. Khoảng cách mắt mũi ngắn hơn đường kính mắt. Đồng tử tròn. Đường kính màng nhĩ bằng đường kính mắt. Nếp màng nhĩ rõ, đường tạo thành bởi những dài tuyến. Răng lá mía có hai rìa bắt đầu gần sau đường biên trng khoang mũi hầu, không kéo dài ra sau hầu, tách biệt nhau. Lưỡi rộng, hình quả lê, mặt trên mịn, xẻ thuỳ đôi và tư do phía sau. Thân phẳng và chắc mập, có vùng lõm ở giữa, rìa lớn nhất và nốt sần ở vùng lưng trước. Mặt bụng màu xanh lam đậm có vô số hoa văn và đốm màu trắng xám. Đồng tử đen, mống mắt trắng xanh lam nhạt có hoa văn đen không đều.
Da thô ráp, có nhiều dãy tuyến không đều, lớn và mụn có hột nhỏ. Có tuyến sừng rõ ở đỉnh mỗi vùng trên ổ mắt. Có 2 – 3 tuyến thon dài phình lớn phía sau màng nhĩ và 2 – 3 tuyens tròn ở trước nó. Có 6 – 7 dãy tuyến phình lớn giữa đầu và thân. Có 3 – 4 tuyến ở vùng chẩm, 2 – 3 tuyến ở lưng trước. Nửa trên của mặt bên thô ráp, có nhiều tuyến lớn từ sau vai đến eo. Nửa dưới mịn, nổi hột nhẹ. Nốt sần nhìn nón lớn không đều và tuyến lớn ở các chân. Mặt bụng mịn, có nổi hột dày ở họng.
Lưng có màu cà phê hoặc nâu đậm. Một vài dãy tuyến màu cam hoặc nâu sáng ở mặt bên từ mép sau màng nhĩ qua vai đến trên lỗ huyệt. Những dãy tuyến lớn màu nâu sẫm ở lưng. Có đốm không rõ ở chân trước. Những dãy tuyến và nốt sần hình nón ở trên vết có màu nâu. Những sốt sần hình nón khác màu nâu sáng hoặc cam.
Chân trước: Dài và khoả. Cổ chân chạm mút mõm khi chân bó sát thân. Công thức ngón I < II < IV < III. Đầu ngón giãn rộng, tròn và có đĩa dẹt, có rãnh racts lưng của đĩa với bụng. Củ cu bàn chân ở ngón thứ ba trong. Củ khớp phụ lớn và rõ, có nhiều nốt sần phụ mờ. Công thức củ khớp phụ 1, 1, 2, 2. Củ bàn chân trong phát triển mạnh, hình bầu dục và dài. Củ bàn chân ngoài trỏn, rõ và có củ tròn nhỏ ở phía ngoài. Mặt ngoài ngón thứ IV có tua, mép ngoài của nó có răng cưa. Màng bơi giữa các ngón khá phát triển. Có tuyến hình nón màu xanh sẫm và trắng xám hơn rải rác trên mu bàn chân trước. Có vết trắng xám rộng và một hoặc hai vết trắng xám ở ngón thứ nhất và thứ hai. Đĩa ngón màu trắng xám ở trên. Màng bơi màu trắng xám.
Chân sau: Dài và mạnh. Khớp cổ chân chạm mũi và mắt khi chân sau bó sát ra trước. Ngón có màng. Công thức ngón: I < II < III < V < IV. Các ngón có đĩa tròn. Đầu ngón giãn nở thành đĩa có rãnh. Củ khớp phụ tròn, lớn, công thức: 1, 1, 2, 3, 2. Củ bàn chân trong hình bầu dục, lớn. Không có củ bàn chân ngoài. Có mụn cóc ở mặt trong của vùng đốt bàn chân. Mặt ngoài của ngón thứ V có tua, viền ngoài của nó có răng cưa. Màng bơi giữa các ngón có công thức: I(0) – (1)II(0) – (1)III(0) – (1)IV(1) – (0)V. Không có vết rõ, chỉ có những vết phát triển yếu ở phần trong của đùi và ngoài của ống chân, dãy tuyến màu nâu, các tuyến khác màu tối. Phần giữa nách và háng màu xanh lam sẫm, một vài mụn màu trắng xám ở phần trên, hoa văn trắng xám chụm lại ở phần thấp hơn nối với hoa văn bụng. Vùng lỗ huyệt màu xanh lam sẫm, có tuyến hình nón màu cam không đều gần đó. Mu bàn chân sau có màu đất. Mỗi ngón chân sau đều có vết màu xanh lam đậm. Những vết này liên kết gián đoạn qua màng bơi. Một vài tuyến màu xam ở mặt ngoài của ngón thứ tư và thứ năm. Đĩa ngón màu trắng xám ở trên.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở các bọng cây, hốc đá có nước ở độ cao 800 – 1.000 m. Kiếm ăn đêm, thức ăn là các loài côn trùng sống trong hốc nước và khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở thành các hốc nước, mỗi lần đẻ 3 – 5 trứng, gần như đẻ quanh năm. Nòng nọc sau một thời gian nở ra và rơi xuống nước Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đoạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Trong nước: Sống ở miền Bắc Việt Nam như Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Thái Nguyên, Vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
Nước ngoài: Trung Quốc, Lào, Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae