Nhái cây sần bắc bộ
| Tên tiếng Anh: | Mossy frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Theloderma corticale |
| Đồng danh: | Rhacophorus corticalis Boulenger, 1903 |
| Đồng danh: | Rhacophorus fruhstorferi Ahl, 1927 |
| Đồng danh: | Rhacophorus corticalis Boulenger, 1903 |
| Đồng danh: | Rhacophorus fruhstorferi Ahl, 1927 |
| Tên khác: | Ếch cây rêu |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Bắc Kạn Hà Tĩnh Hòa Bình Nghệ An Quảng Bình Hầu khắp các tỉnh ở Bắc Bộ Vườn quốc gia Ba Bể, Việt Nam Vườn quốc gia Xuân Sơn, Việt Nam Vườn quốc gia Tam Đảo, Việt Nam Khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngô Lương, Hòa Bình
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống trong các hốc cây, hốc đá có bọng nước
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
NHÁI CÂY SẦN BẮC BỘ
Theloderma corticale (Boulenger, 1903)
Rhacophorus corticalis Boulenger, 1903
Rhacophorus fruhstorferi Ahl, 1927
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước cơ thể lớn (SVL con đực: 67,76 mm, SVL con cái: 67,45 mm). Đầu to, dẹt, dài gần bằng rộng, mút mõm tròn, vùng má xiên, hơi lõm; màng nhĩ hình tròn, nhỏ hơn đường kính mắt; có răng lá mía. Chi trước chỉ có màng ở gốc giữa ngón tay III và IV, mút ngón tay có đĩa bám rất lớn; ở con đực chai sinh dục ở ngón I màu kem, chiều dài các ngón I<II<IV<II<III<V. chi sau có màng hoàn toàn, trừ ngón IV; đĩa ngón chân nhỏ hơn đĩa ngón tay; khi gập dọc thân, khớp cổ – bàn chạm đến góc sau mắt; chiều dài các ngón I<II<III<V; củ bàn trong phát triển, không có củ bàn ngoài. Da lưng sần sùi bởi nhiều mụn cóc lớn và những nốt sần nhỏ, trên đùi và quanh hậu môn có nhiều nốt sần hình chóp. Lưng xanh rêu, xen lẫn với những vân nâu đỏ không có hình dạng cố định; chi có các vệt ngang, sẫm màu; sườn và bụng vàng với các vết hay vân đen.
Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale có hình thái rất giống với loài Ếch cây sần hai màu Theloderma bicolor. Nhưng giữa hai loài này có các đặc điềm khác biệt chính như sau: Đĩa ngón chân và phần hoa văn bụng, phía trong chân sau của Theloderma bicolor có những đốm màu vàng cam, nhưng Theloderma corticale không có. Các nốt sần của Theloderma bicolor có nhiều những đốm màu vàng đỏ trên lưng. Về kích thước loài Theloderma corticale SVL con đực: 63,5 – 67,76 mm, SVL con cái: 64,3 – 67,45 mm lớn hơn Theloderma bicolor SVL con đực: 36,5 – 44,7 mm; SVL con cái: 48,0 – 50,2 mm.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các hang đá vôi nhỏ dưới các thác nước hay trên các thành đá ven các suối hoàn toàn bị che phủ bởi tán rừng rậm ở độ cao 900 – 1600m. Loài này cũng tìm thấy trong các bể nước mưa ở tầng hầm các biệt thự cũ của Pháp còn sót lại trên Vườn quốc gia Tam Đảo. Thời gian sinh sản từ tháng 4 – 6. ở loài này không thấy hiện tượng đa thê như ở loài Theloderma vietnamensis và Theloderma asperum. Trứng đẻ thành từng đám nhỏ 6 – 17 quả, có vỏ nhầy rất dầy dính chặt vào trần và vách ẩm của hốc đá. Số lượng trứng đẻ một lần đạt đến 60 quả chia thành 3 – 5 đám nhỏ riêng biệt.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang, Tuyên Quang (Na Hang), Bắc Giang, Cao Bằng (Hạ Lang), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Sơn La (Copia), Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (Pù Huống), Hà Tĩnh (VQG Vũ Quang), Quảng Bình (VQG Phong Nha Kẻ Bàng).
Nước ngoài: Loài đặc hữu, chỉ có ở Việt Nam.
Giá trị:
Có giá trị khoa học và thẩm mỹ, là một trong những loài ếch lạ, đẹp, có thể nuôi sinh sản để làm công cụ, giáo cụ học tập cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về loài ếch cây ở Việt Nam.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh miền Bắc vào đến Quảng Bình; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch; loài này con bị săn bắt và buôn bán làm sinh vật cảnh; ước tính quần thể bị suy giảm hơn 30% trong vòng 15 năm qua.
Phân hạng: VU A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Một phần vùng phân bố của loài nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Kiểm soát, hạn chế săn bắt làm sinh vật cảnh. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam năm 2023 – phần động vật – trang 268.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Tôm hùm đá
Tên tiếng Anh:Cancer homarus
Tên Latin:Panulirus homarus
Rắn bông súng
Tên tiếng Anh:Rainbow mud snake
Tên Latin:Enhydris enhydris
Bướm quạ cánh trước xanh đậm
Tên tiếng Anh:Long branded blue crow
Tên Latin:Euploea algea
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae