Nhái cây sần albo
| Tên tiếng Anh: | White - spotted bug - eyed frog |
|---|---|
| Tên Latin: | Theloderma albopunctatum |
| Đồng danh: | Philautus albopunctatus Liu and Hu, 1962 |
| Đồng danh: | Aquixalus albopunctatus Fei et al., 2009 |
| Đồng danh: | Liuixalus albopunctatus Hertwig et al., 2012 |
| Đồng danh: | Theloderma albopunctatum (Liu and Hu, 1962) |
| Tên khác: | Ếch phân chim abo |
- Độ cao so mặt nước biển 1600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Campuchia Lào Thái Lan Trung Quốc Myanmar Đồng Nai Hà Giang Lâm Đồng Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Lai Châu Vườn quốc gia Hoàng Liên, Việt Nam Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Vườn quốc gia Bát Xát, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Sống trong các hốc cây, hốc đá có bọng nước
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Ăn các loài ấu trùng, côn trùng đất trong khu vực sống Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
NHÁI CÂY SẦN ALBO
Theloderma albopunctatum (Liu and Hu, 1962)
Philautus albopunctatus Liu and Hu, 1962
Aquixalus albopunctatus Fei, Hu, Ye, and Huang, 2009
Liuixalus albopunctatus Hertwig et al., 2012
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có kích thước nhỏ, SVL con đực: 30,5 – 32 mm, SVL con cái: 30,3 – 32 mm; Đầu dài hơn rộng; mút mõm tù; lỗ mũi hình ô van, hơi nhô ra ở mặt bên, nằm gần mắt hơn so với mút mõm; vùng má phẳng; khoảng cách gian ổ mắt lớn hơn chiều rộng mí mắt trên và khoảng cách gian mũi; đường kính mắt ngắn hơn dài mút mõm (ED/SL 0,66 – 0,77 (con đực) và 0,71 – 8,2 (con cái)), màng nhĩ rõ ràng, tròn, lớn hơn khoảng cách từ màng nhĩ tới mắt, nhỏ hơn đường kính mắt (TD/ED 0,69 – 0,71 (con đực) và 0,65 – 0,71 (con cái)). Lưỡi có khía ở phía sau, không có răng lá mía. Gờ da phía trên màng nhĩ không rõ ràng. Chân trước mảnh, tương quan chiều dài giữa các ngón: I<II<IV<III; mút ngón tay có đĩa bám phát triển; giữa các ngón tay không có màng bơi; chai dưới khớp ngón tay rõ, hình ô van, công thức: 1:1:2:2; củ bàn trong rõ; không có chai sinh dục ở con đực. Chân sau: tương quan chiều dài giữa các ngón chân I<II<V≤III<IV; mút ngón chân có đĩa bám phát triển nhưng nhỏ hơn ngón tay; màng bơi giữa các ngón chân có khoảng ¾, công thức màng bơi: I0 – 1II0 – 1½III0 – 1½IV1 – 0V; chai dưới khớp ngón rõ, công thức: 1:1:2:3:2; củ bàn trong rõ. Da: mặt lưng và hai bên có các nốt sần nhỏ; cằm nhẵn; bụng và mặt dưới các chi có các nốt sần nhỏ.
Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng màu kem; trên đầu có một vệt đen hình tam giác; vùng vai có vệt xám kéo xiên về phía hông, gần hông màu kem; giữa lưng có một vệt đen lớn; phần sau lưng kem; dưới cằm xám; bụng và bên dưới các chi nâu, với các sọc xám nhỏ.
Loài này khác biệt với Theloderma asperum ở một số đặc điểm sau:
Ếch cây sần albo Theloderma albopunctatum có cơ thể màu xám đậm đến đen. Công thức hàng răng môi 3(2-3)/3(1); tổng chiều dài 32.3, 14.7, dài đuôi 18.7 mm.
Ếch cây sần asper Theloderma asperum có cơ thể màu xám tro. Công thức hàng răng môi 3(2-3)/3(1); tổng chiều dài 40.0 mm, dài thân 15.6 mm, dài đuôi 24.4 mm.
Sinh học, sinh thái:
Các khu vực rừng từ độ cao 400 – 1.500m. Con trưởng thành sống trong các bọng cây to hay cây đổ có chứa nước mưa. Mùa sinh sản từ tháng 4 tới tháng 10. Trứng đẻ thành đám 5 – 6 quả dính vào thành bọng cây phía trên mặt nước, nòng nọc khi phát triển sẽ rơi vào trong nước. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực, các loài ấu trùng của muỗi. Ban ngày ở các hốc đá, cây to có nước đọng, ban đêm gặp trên lá cây ven suối trong rừng thường xanh gồm cây gỗ vừa và nhỏ, xen cây bụi.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận ở Lai Châu, Hà Giang vào đến Lâm Đồng và Đồng Nai.
Nước ngoài: Trung Quốc, Cambodia, Ấn Độ, Laos, Myanmar, Thailand
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Lửng chó
Tên tiếng Anh:Common raccoon dog
Tên Latin:Nyctereutes procyonoides
Cầy giông
Tên tiếng Anh:Large indian civet
Tên Latin:Viverra zibetha
Thằn lằn ngón ota
Tên tiếng Anh:Ota’s bent-toed gecko
Tên Latin:Cyrtodactylus otai
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae