Nhái cây rêu
| Tên tiếng Anh: | Langbian frilled treefrog |
|---|---|
| Tên Latin: | Philautus gryllus |
| Đồng danh: | Raorchestes gryllus (Smith, 1924) |
| Đồng danh: | Rhacophorus gryllus Ahl, 1931 |
| Đồng danh: | Pseudophilautus gryllus Li et al., 2009 |
| Đồng danh: | Philautus gryllus Smith, 1924 |
| Tên khác: | Ếch rêu langbiang |
- Độ cao so mặt nước biển 1500 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
NHÁI CÂY RÊU
Philautus gryllus Smith, 1924
Raorchestes gryllus (Smith, 1924)
Rhacophorus gryllus Ahl, 1931
Pseudophilautus gryllus Li et al., 2009
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura
Đặc điểm nhận dạng: Oriental shrub frogs
Thể tạng mập. Đầu dài và rộng. Đồng tử nằm ngang. Mũi hầu nhỏ, tròn, không bị ẩn bởi mép hàm. Răng lá mía tiêu biến. Mũi tròn, cắt ở hướng bên, gần mút mõm hơn mắt. Màng nhĩ lớn, tròn, rõ. Mõm của con đực nhọn và tròn hơn con cái. Góc mắt rõ. Da lưng có nốt sần. Da bụng nổi hột/.. Con đực có túi kêu lớn. Lưng có màu rêu pha trộn giữa xanh, vàng, đỏ, nâu, xám và đen. Màu nền biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện thể chất của cá thể.
Chân trước: Đầu ngón giãn ra đến đĩa lớn. Đĩa có rãnh tròn viền. Công thức ngón: I < II < IV <III. Củ khớp phụ tròn, lớn. Công thức củ khớp 1, 1, 2, 1. Củ bàn chân trong khá phát triển, tròn. Mu bàn chân màu trắng khá phát triển ở trên ngón cái. Màng bơi không phát triển, chỉ có một màng dễ thấy chưa phát triển giữa các ngón III và IV. Riềm da phát triển ở mép ngoài các chân trước
Chân sau: Các ngón có đĩa tròn. Công thức ngón: I < II < III < V < IV. Củ khớp phụ tròn, rõ. Công thức củ khớp 1, 1, 2, 3, 2. Nếp cổ chân xuất hiện. Củ bàn chân trong tròn. Màng bơi giữa các ngón phát triển. Công thức màng bơi I(1)IIi(1)e(0.5)IIIi(1.5)e(0) IVi(1)e(1)V(0). Riềm da dọc mép ngoài cổ chân phát triển.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở các con suối chảy ở độ cao 800 – 1.000 m, sống bám trên cây và lá cây. Thức ăn là các loài côn trùng sống trong khu vực phân bố. Thường gặp vào đầu mùa mưa hàng năm chúng kết đôi, đẻ trứng ở các bọc trứng trên cây gần các hố nước đọng trong rừng hoặc ven suối. Nòng nọc sau một thời gian ăn hết các dưỡng chất trong bọc trứng mà con mẹ để lại. Chúng chui ra khỏi bọc trứng và rơi xuống nước Vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua các giai đoạn giống như các loài lưỡng cư khác là dưới nước và trên cạn.
Phân bố:
Loài đặc hữu được phát hiện ở miền Trung Việt Nam ở Vườn quốc gia Bạch Mã cho đến Lâm Đồng ở Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà và Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Núc nác
Tên tiếng Anh:Indian trumpet tree
Tên Latin:Oroxylum indicum
Bướm phượng đuôi kiếm xích
Tên tiếng Anh:Chain swordtail
Tên Latin:Graphium aristeus
Rắn lác
Tên tiếng Anh:Crab-eating water snake
Tên Latin:Fordonia leucobalia
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae