TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái bén

Tên tiếng Anh: North vietnam treefrog
Tên Latin: Hyla simplex
Đồng danh: Hyla chinensis Boettger, 1901
Đồng danh: Hyla chinensis simplex Nieden, 1923
Đồng danh: Hyla chinensis Boettger, 1901
Đồng danh: Hyla chinensis simplex Nieden, 1923
Tên khác: Nhái cây bắc việt nam
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI BÉN

Hyla simplex Boettger, 1901
Hyla chinensis Boettger, 1901
Hyla chinensis simplex Nieden, 1923
Họ: Nhái bén Hylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Cơ thể nhỏ bé và giống với loài Nhái bén nâu Hyla annectans, nhưng bụng khá to và chân mảnh và khác biệt về màu sắc, các nốt sần ở phần chân sau. Con đực nhỏ hơn con cái. Thân dài 28 mm, con cái thân dài khoảng 35 – 40 cm. Thân mặt lưng màu lục, mặt bên và bụng màu trắng. Từ góc mắt sau tới mặt trên vai có đường vân nhỏ màu lục đậm, bên thân có điểm vân đen hoặc nối liền nhau thành đường đen, hoặc liên tục xếp thành hàng. Mặt lưng da bóng, ngực bụng và mặt dưới đầu có nốt dẹt bằng phân bố dày, bụng thường bóng. Ngón ở chân trước và sau đều có giác bám và khe ngang. Bàn chân, tay thường có các nốt nhỏ.
Sinh học, sinh thái:
Nhái bén thường sống khắp các khu vực có rừng ở độ cao từ 400m đến 900m. Chỉ xuất hiện vào mùa mưa hàng năm, ban ngày hay mùa đông chúng thường ẩn náu trong các bụi cây nhỏ, khe đá, cây bụi, kiếm ăn ban đêm. Thức ăn chính của chúng là các loài côn trùng, bọ cánh cứng, dế con, mối… Mùa sinh sản thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 6 hoặc muộn hơn tuỳ từng vùng. Trứng được đẻ trong các tổ bòn bọt được ếch cái cuộn lá lại và có đường kính 6 – 8cm, đẻ sát mép nước, Giai đoạn đầu nòng nọc sẽ ăn các dưỡng chất do con me cung cấp trong tổ bòn bọt. Sau một thời gian chúng sẽ chui ra và rớt xuống khu vực có nước tiếp tục vòng đời biến thái – Ăn thực vật, Di chuyển bằng đuôi, Thở bằng mang và sống bấy đàn trước khi mọc chân, tiêu giảm phần đuôi và lên cây để sống.
Phân bố:
Trong nước: Loài này chủ yếu phân bố ở hầu khắp các tỉnh có rừng còn tốt ở độ cao 600m trở lên ở các tỉnh phía Bắc cho đến Nghệ An, Hà Tĩnh.
Nước ngoài: Loài này phân bố ở Trung Quốc, Lào.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae