TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Văn Chung

Nhái bầu ninh thuận

Tên tiếng Anh: Ninhthuan narrow - mouth frog
Tên Latin: Microhyla ninhthuanensis
Đồng danh: Microhyla ninhthuanensis Hoang et al., 2024
Đồng danh: Microhyla ninhthuanensis Hoang et al., 2024
Đồng danh: Microhyla ninhthuanensis Hoang et al., 2024
Đồng danh: Microhyla ninhthuanensis Hoang et al., 2024
Tên khác: Nhái bầu núi chúa
  • Độ cao so mặt nước biển 300 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI BẦU NINH THUẬN

Microhyla ninhthuanensis Hoang et al., 2024
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Thể tạng mập, kích thước trung bình, chiều dài từ mút mõm đến lỗ huyệt 10.2 mm. Đầu rộng hơn dài. Mõm dài, tròn ở góc nhìn lưng, nhọn ra khỏi mép dưới hàm, dài hơn đường kính của mắt. Mắt nhỏ, hơi lồi, đồng tử tròn. Mặt lưng của đầu phẳng, vùng má nhọn. Khoé mắt rõ. Lỗ mũi hình bầu dục, nằm ở mặt bên, gần mõm hơn mắt. Khoảng cách gian mắt rộng, lớn hơn khoảng cách gian mũi. Khoảng cách gian mũi rộng, lớn hơn chiều rộng mi mắt trên. Màng nhĩ khuất, nếp màng nhĩ yếu, chạy từ sau góc mắt đến chỗ mọc chân trước. Không có răng lá mía, lưỡi không có nhú, hình bầu dục và tự do ở nửa sau. Túi kêu nhỏ. Chân trước ngắn, gấp ba lần chiều dài chân sau. Bàn chân trước ngắn hơn hai lần cẳng chân trước. Ngón chân trước mảnh, không có màng bơi, tiết diện tròn. Riềm da ngón yếu. Công thức ngón: I < II < IV < III. Tất cả các đĩa đều có rãnh biên hẹp.
Mặt lưng của đầu chót các ngón có rãnh dọc giữa nhô ra hai mảnh, công thức độ rộng đĩa ngón I < IV < II < III. Không có đệm châm. Củ khớp rõ, tròn, công thức củ khớp 1:1:2:2 (theo thứ tự các ngón I:II:III:IV). Củ bàn trong hình bầu dục, lồi lên. Một cặp củ bàn ngoài được phân chia bởi một đường thắt eo thành hai phần bằng nhau. Phần ngoài hơi tròn, phần trong hình lưỡi liềm. Chân sau mảnh và hơi ngắn. Cẳng chân dài hơn nửa chiều dài thân. Khớp chày – cổ chân không chạm mõm khi duỗi chân. Công thức ngón chân sau: I<II<V<III<IV. Cổ chân mịn, không có nếp cổ chân trong. Đầu các ngón giãn nở ra thành đĩa, hơi rộng hơn các ngón, nhìn từ mặt lưng, các ngón đều có rãnh dọc giữa ở đĩa, công thức độ rộng đĩa: I<V<II<III=IV. Màng bơi có ở đáy các ngón chân sau và phát triển kém, công thức màng bơi I2 – 2½II2 – 3III3 – 4IV4⅓ – 3V; Các củ khớp lồi, tròn, công thức 1, 1, 2, 3, 2; Củ bàn trong thon dài bầu dục, lớn và lồi. Củ bàn ngoài tròn, nhô lên và rất rõ, nhở hơn chiều dài củ bàn trong.
Màu sắc trong tự nhiên: Mặt lưng của đầu và thân màu nâu hồng có vệt nâu đậm hình chữ X giữa mắt và chân trước. Sọc lưng bên hình thành gợn sóng về phía háng. Một vệt thâm nhỏ hình ‘( )’ ở trung tâm của lưng và một đường sọc dọc giữa lưng từ mút mõm đến huyệt. Eo và mặt mặt của đầu màu sẫm, có một sọc đậm màu mặt bên chạy từ mút mõm đến mũi, nhạt phía hàm trên. Cằm màu xám đậm. Họng màu trắng có rải rác đốm xám sẫm. Ngực và bụng màu kem trắng kiểu đá hoa cương. Mặt trên của các chân có kẻ dọc ngang màu nâu sẫm mờ. Mặt trên ngón màu nâu có sọc ngang nâu. Mặt dưới của chân trước màu trắng kem. Mặt dưới của chân sau màu trắng hem trở nên xám đậm phía cẳng chân, bàn chân. Đồng tử hai màu, vàng ở một phần ba trên và màu đồng thau ở hai phần ba dưới. Tròng mắt hình bầu dục, ngang và màu đen.
Microhyla ninhthuanensis khác với các loài thuộc Giống Microhyla ở Việt Nam bởi các đặc điểm sau:
Mõm tròn ở mặt nghiêng (so với mõm nhọn tù ở Microhyla heymonsi).
Lưng màu nâu hồng có vết chữ X giữa mắt và chỗ mọc chân trước (so với lưng màu đỏ đến đỏ nâu có vết chữ X và vết chữ V màu nâu đậm ở Microhyla heymonsi.
Ngón I của chân trước ngắn hơn một nửa chiều dài ngón II chân trước (so với ngón I dài hơn nửa ngón II ở Microhyla daklakensis.
Mặt lưng màu hồng vàng có vết nâu hình chữ X giữa mắt và chỗ mọc chân trước ( so với mặt lưng nâu vàng có vệt nâu hình chữ V giữa mắt và chỗ mọc chân trước ở Microhyla ninhthuanensis và mặt lưng màu nâu đến đỏ xám có vệt đỏ chữ V và X ở Microhyla heymonsi.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở trong các khe nước và vũng nước đọng trong các khu vực rừng thường xanh ven biển, trên các kiểu rừng khô hạn ở độ cao 300 m. Thức ăn là những loài côn trùng nhỏ sống trong khu vực, hoạt động kiếm ăn đêm. Vòng đời của chúng giống các loài lưỡng cư thuộc Bộ Không đuôi Anura khác. Loài này thường gặp vào mùa mưa, tụ tâp thành từng bầy ở các vũng nước trong rừng sau cơn mưa, gọi tình kết đôi và đẻ trứng.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài mới được nhà nghiên cứu bò sát, lưỡng cư Hoàng Văn Chung phát hiện năm 2024 ở độ cao 305 m ở Vườn quốc gia Núi Chúa, thuộc tỉnh Ninh Thuận. Tên loài được đặt theo khu vực đã phát hiện và phân bố.
Nước ngoài: Không có.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loàiHoàng Văn Chung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae