TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái bầu heymonsi

Tên tiếng Anh: Dark - sided chorus frog
Tên Latin: Mycrohyla heymonsi
Đồng danh: Microhyletta heymonsi Lue, Tu, Hsiang, 1999
Đồng danh: Microhyletta heymonsi Lue, Tu, Hsiang, 1999
Đồng danh: Microhyletta heymonsi Lue, Tu, Hsiang, 1999
Đồng danh: Microhyletta heymonsi Lue, Tu, Hsiang, 1999
Tên khác: Nhái bầu viên đen hông
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI BẦU HEYMONSI

Mycrohyla heymonsi Vogt, 1911
Microhyletta heymonsi Lue, Tu, Hsiang, 1999
Họ: Nhái bầu Microhylidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Mẫu vật nghiên cứu: Ba cá thể cái trưởng thành TYT 2010.27 (SVL 22,43 mm), TYT 2010.32 (SVL 24,17 mm), TYT 2010.33 (SVL 25,87 mm) thu vào tháng 6/2010 và một cá thể đực trưởng thành TYT 2012.17 (SVL 21,52 mm). Loài lưỡng cư có kích thước nhỏ trong họ nhái bầu. Thân mảnh, có dạng hình tam giác; đầu rộng hơn dài (HW 5,86 – 8,1 mm; HL 5,56 – 7,44 mm) mõm hơi tròn, dài hơn một chút so với đường kính mắt (SL 3,18 – 3,38 mm, ED 2,12 – 2,36 mm); vùng má hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt; khoảng cách gian mũi tương đương với khoảng cách gian ổ mắt và rộng hơn so với mí mắt trên (IND 2,22 – 2,49 mm, IOD 2,13 – 2,62 mm, UEW 1,38 – 1,64 mm); không có răng lá mía; lưỡi dài, tròn ở phía sau; màng nhĩ ẩn. Các ngón tay tự do; chi sau dài, củ khớp dưới ngón rõ; củ bàn trong và củ bàn ngoài bé; ngón chân có màng bơi nhưng không phát triển; khi gập dọc thân khớp chày – cổ chạm gần đến mút mõm. Thân màu vàng đến nâu xám nhạt với các vệt sẫm hơn ở trên lưng, các vệt sẫm hai bên đối diện nhau; giữa lưng có vệt trắng mảnh với một đốm đen nhỏ; mỗi bên thân với vệt đen sẫm kéo dài từ mõm, ngang qua mắt dọc 2 bên sườn tới bẹn; mặt bên chi sau có các vệt ngang, mảnh, sẫm màu.
Microhyla heymonsi khá giống loài Microhyla ninhthuanensis, một loài mới phát hiện năm 2024, nhưng khác biệt bởi các đặc điểm sau:
Mõm tù ở mặt nghiêng (so với mõm nhọn tròn ở mặt nghiêng Microhyla ninhthuanensis).
Lưng màu đỏ đến đỏ nâu có vết chữ X và vết chữ V màu nâu đậm ở Microhyla heymonsi.( Lưng màu nâu hồng có vết chữ X giữa mắt và chỗ mọc chân trước ở Microhyla ninhthuanensis).
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường sống phổ biến ở khu vực bờ suối, vũng nước đọng trong các khu rừng vùng trung du và miền núi, trong các bãi cỏ ven rừng, các thung lũng, ruộng ẩm, ven các vũng nước chổ có các loại thực vật mục nát và thường sống trên cạn. Thức ăn của loài này là các loài côn trùng nhỏ như kiến, mối. Vòng đời của chúng giống các loài lưỡng cư thuộc Bộ Không đuôi Anura khác. Mùa sinh sản từ tháng 3 – 5 hàng năm , chúng đẻ trứng thành những đám nhỏ nổi trên các vũng nước đọng.
Phân bố:
Trong nước: Đây là loài có vùng phân bố rất rộng và hầu khắp ở Việt Nam Lạng Sơn, Ninh Bình, Hà Nội (Ba Vì), Huế, Kontum, Gia Lai và ở Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Núi Dinh).
Nước ngoài: Trung Quốc, Đài Loan, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae