TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Nhái bầu béc mơ

Tên tiếng Anh: Berdmore's chorus frog
Tên Latin: Microhyla berdmorei
Đồng danh: Engystoma berdmorei Blyth, 1856
Đồng danh: Callula natatrix Cope, 1867
Đồng danh: Engystoma berdmorei Blyth, 1856
Đồng danh: Callula natatrix Cope, 1867
Tên khác: Nhái bầu lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 598 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI BẦU BÉC MƠ

Microhyla berdmorei (Blyth, 1856)
Engystoma berdmorei Blyth, 1856
Callula natatrix Cope, 1867
Họ: Chẫu cây Rhacophoridae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Khoang miệng: Lưỡi rộng, tròn ở phía sau. Phần đầu: rộng đầu và dài đầu gần tương đương (HL/HW: 0,92), mõm hơi tròn, không có gờ mõm, đầu và miệng hẹp, mõm vượt quá hàm dưới, không có màng nhĩ. Lỗ mũi tròn, lỗ mũi nằm gần mõm hơn mắt, khoảng cách từ mũi đến mút mõm bé hơn khoảng cách từ mũi đến trước mắt (SN/EN: 0,97) và gian mũi bằng khoảng 1/2 lần gian ổ mắt (IN/IUE: 0,65). Mắt trung bình, đường kính mắt là 1,22 mm, đường kính mắt so với chiều dài đầu bằng khoảng 1/3 lần (EL/HL: 0,32), tương đương dài mõm (EL/SE: 0,86 ± 0,10), gấp 1,66 lần chiều rộng mí mắt trên (EL/PaLW: 1,66 ± 0,23) và lớn hơn gian ổ mắt (EL/IUE: 1,26 ± 0,14) Chi trước: các ngón tay tự do, ngón II và IV gần tương đương, ngón III dài nhất, củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn ngoài lớn hơn củ bàn trong, củ bàn tay không rõ. Chi sau dài, ngón chân có màng hoàn toàn, củ bàn trong và củ bàn ngoài gần tròn, chiều dài ống chân gấp gần 4 lần chiều rộng ống chân (TL/TW: 3,95 ± 0,22), củ khớp dưới ngón lồi rõ, củ bàn trong tương đương củ bàn ngoài, chiều dài củ bàn trong gần bằng 1/2 lần chiều dài ngón I (IMT/ITL: 0,42 ± 0,13), mút ngón chân phình thành đĩa, khi ép hai chi sát đùi, hai khớp khuỷu gối lên nhau, khớp chày – cổ đạt gần tới mút mõm. Da mỏng, nổi hạt, hạt ít trên lưng, tập trung nhiều ở hai bên phía ổ mắt, hai bên thân, trên hai chi sau, có nếp da hai bên sườn chạy từ gốc chi trước đến gốc đùi.
Màu sắc mẩu vật bảo quản: thân màu xám nhạt, đầu màu nâu xám, trên các chi màu nhạt hơn, màu sẫm hơn ở giữa lưng, mặt bụng màu trắng đục. Phần cằm, họng và ngực lốm đốm các vệt xám nhạt, hoa văn màu chấm, bàn chân màu đen nhạt, hai bên sườn có các đốm đen nhỏ, chi sau có vệt sẫm vắt ngang.
Sinh học, sinh thái:
Loài này thường gặp ở những nơi ẩm ướt trong các khu rừng thường xanh, đồng ruộng, ven suối, vườn cây…Mùa sinh sản thường kéo dài từ tháng 3 đến tháng 6 theo vùng phân bố. Ban ngày chúng ẩn náu nơi đất trũng hay những kẽ đất, hoạt động kiếm ăn ban đêm, chỉ xuất hiện vào mùa mưa. Thức ăn chủ yếu của chúng là kiến, mối, côn trùng đất.
Phân bố:
Trong nước: Phân bố chủ yếu ở miền Bắc vào đến Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương Long An và thành phố Hồ Chí Minh.
Nước ngoài: Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Thái Lan.
Tình trạng:
Số lượng ngoài tự nhiên ngày càng suy giảm vì nơi cư trú suy giảm do khai thác quá mức.
Biện pháp bảo vệ:
Cần phải có biện pháp nghiêm cấm săn bắt ngoài tự nhiên. Cần tổ chức nhân nuôi ở các khu bảo tồn nhằm nhân giống để tái thả vào môi trường tự nhiên và giữ lại nguồn gen.

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Hoàng Ngọc Thảo, Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Thiên Tạo, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae