TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Ngót nghẻo

Tên tiếng Anh: Flame lily
Tên Latin: Gloriosa superba
Đồng danh: Gloriosa angulata Schumach., (1827)
Đồng danh: Eugone superba (L.) Salisb., 1796
Đồng danh: Methonica superba (L.) Crantz, 1766
Đồng danh: Methonica senegalensis Poit., 1830
Tên khác: Ly ly biển
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NGÓT NGHẺO

Gloriosa superba L. 1753
Gloriosa angulata Schumach., (1827)
Eugone superba (L.) Salisb., 1796
Methonica superba (L.) Crantz, 1766
Methonica senegalensis Poit., 1830
Họ: Tỏi độc Melanthiaceae
Bộ: Hành Liliales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây sống lâu năm do có thân rễ phình lên thành củ nạc mọc tập trung thành bụi dày, thân vươn dài, cuốn hay bò trên các cây khác. Thân mềm, nhẵn bóng. Lá mọc cách, mọc đối hay mọc vòng, phiến lá gần như sát với cành và ở đỉnh kéo dài thành tua cuốn giúp cây vươn lên cao. Hoa mọc đơn độc hay xếp sát nhau thành ngù giả ở ngọn cành. Hoa lớn đẹp, rất hấp dẫn vì có dáng kỳ lạ. Bao hoa 6 mảnh lớn trải rộng, hơi có cựa, khi nở có thể cong lại về phía cuống hoa để lộ toàn bộ phần nhụy, nhị, hình giải, mép răn reo lượn sóng màu đỏ rất đẹp ở hai phần ba phía đỉnh, còn phần dưới có màu vàng tươi. Màu sắc chuyển tiếp dần và rất hài hòa. Nhị 6 chiếc, có chỉ nhị rất to, dài, bao phấn màu vàng tươi, đính lưng và lắc lư rất duyên dáng. quả nang mở 3 mảnh, thuôn dài, nhiều hạt, khi chím màu đỏ tươi.
Sinh học, sinh thái:
Cây mọc hoang dại ven biển, vùng đồi núi nước ta và được gây trồng rộng rãi làm cây thuốc và làm cảnh. Hoa nở rải rác gần như quanh năm, thường tập trung vào mùa hè và mùa thu. Tuy nhiên cây có chứa chất độc colchicin, superbine, glucosine. Độc nhiều nhất ở rễ củ. Chất độc đáng lưu ý có trong cây là colchicin rất độc, chỉ cần 5mg cho 1kg thể trọng cũng đủ gây chết rất nhanh. Ngộ độc do ăn phải cây ngọt nghẹo gây bệnh cảnh cấp tính sau 2 – 6 giờ, đau rát miệng, khát nước sau đó nôn, buồn nôn dữ dội, đau bụng và tiêu chảy, tiêu máu nặng dẫn tới trụy tim mạch, rối loạn tri giác, co giật, suy hô hấp, tiểu máu, thiểu niệu. Diễn tiến xuất huyết, thiếu máu, yếu cơ vào những ngày thứ 2, thứ 3 tiếp theo. Nếu qua khỏi thường bị rụng tóc xảy ra sau 1 – 2 tuần
Phân bố:
Trong nước: Cây mọc ở hầu khắp các khu rừng ven biển và rừng ngập mặn ở miền Trung đến miên Nam bô nước ta. Ghi nhận loài này ở VQG Yokdon thuộc tỉnh Dak Lak.
Nước ngoài: Bangladesh, Benin, Borneo, Botswana, Burkina, Burundi, Cabinda, Cambodia, Cameroon, Laos, Malaya, Maldives, Mozambique, Myanmar, Nepal, Nigeria, Northern Provinces, Pakistan, Rwanda, Senegal, Seychelles, Sierra Leone, Sri Lanka, Sudan, Sulawesi, Sumatera, Tanzania, Thailand, Togo, Uganda, Vietnam, West Himalaya, Zambia, Zaïre, Zimbabwe Bangladesh, Benin, Borneo, Botswana, Burkina, Burundi, Cabinda, Campuchia, Cameroon, Cộng hòa Trung Phi, Tchad, Trung Nam Trung Quốc, Congo, Ấn Độ, Bờ Biển Ngà, Jawa, Kenya, Lào, Thái Lan, Togo, Uganda, Zambia, Zaïre, Zimbabwe.
Công dụng:
Cây thường được trồng bằng thân rễ (gọi là củ nạc) hay hạt. Cây trồng khá phức tạp và dễ ghép chiết. Cần bảo quản rễ mềm cho tốt và làm giàn che lúc còn non. Hiện nay các nhà vườn còn tạo ra chủng: Gloripsa superba var. grandiflora. Cho hoa lớn màu tươi, đậm hơn.

Tài liệu tham khảo: Cây cảnh, hoa Việt Nam  – Trần Hợp – trang 60.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae